CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG NHTM 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng của NHTM 1. Dịch vụ Singapore – Đảo quốc sư tử với nền kinh tế phát triển nhất khu vục Đông Nam Á, nền kinh tế này được ví là con rồng của Châu Á. Không giàu tài nguyên thiên nhiên như các quốc gia Trung Đông, không sở hữu cho mình diện tích tự nhiên khủng như Trung Quốc, không có một nền tảng văn minh với bề dày lịch sử hàng năm như Ấn Độ nhưng Singapore vẫn phát triển mạnh mẽ không thua kém bất kỳ một quốc gia cường quốc kinh kế.
Nguyên nhân quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển đó là Singapore đã đẩy mạnh và đặt phát triển về dịch vụ là quan trọng nhất, là yếu tố chủ chốt trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Khái niệm dịch vụ rất đa dạng. Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Từ điển Wikipedia: Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất.
Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận. Theo Philip Kotler, dịch vụ (DV) là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. Dịch vụ có 5 đặc điểm: a. Tính vô hình: DV mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua DV.
Đây chính là một khó khăn lớn khi bán một DV so với khi bán một hàng hoá hữu hình, vì khách hàng khó thử DV trước khi mua, khó cảm nhận được chất lượng, khó lựa chọn DV, nhà cung cấp DV khó quảng cáo về DV. Tính vô hình là đặc điểm của dịch vụ nói chung và là điểm chính phân biệt SPDV với các sản 7 phẩm vật chất trong nền kinh tế quốc dân. SPDV không phải chỉ có thể kiểm tra chất lượng trong hoặc sau khi sử dụng mà phải được thực hiện theo một qui trình nhất định. Nên khách hàng đánh giá qua hình ảnh tổng thể của một tổ chức cung cấp dịch vụ.
Do đó ngân hàng phải luôn trong thế tăng cường phát triển mở rộng sử dụng các yếu tố hữu hình trong xúc tiến, bán hàng để tác động đến tâm lý khách hàng. Tăng cường xây dựng và duy trì mối quan hệ thân thiết với khách hàng. Tăng cường thông tin tư vấn cho khách hàng để họ lựa chọn. Tuyển chọn, duy trì đội ngũ bán hàng có đủ tư chất.
Xây dựng hình ảnh, uy tín thương hiệu tốt. Để bán được DV, nguời bán cần tư vấn, giới thiệu rõ cho khách hàng về chất lượng, giá cả, lợi ích, công dụng… mà DV mạng lại. Người bán DV có vai trò quan trọng. Họ là người thay mặt cho doanh nghiệp đón tiếp khách hàng, phục vụ khách hàng.
Do vậy ngân hàng cần tuyển chọn đội ngũ bán hàng có đủ các đủ các tư chất cần thiết, huấn luyện họ đầy đủ kiến thức và kỹ năng, đồng thời có các chính sách quản lý thích hợp để kích thích họ say mê làm việc phục vụ khách hàng. Để giúp khách hàng có đủ thông tin hỗ trợ cho quá trình quyết định mua, doanh nghiệp cần cung cấp cho họ đầy đủ các thông tin cần thiết bằng nhiều phương tiện khác nhau: cung cấp trực tiếp qua đội ngũ bán hàng, chăm sóc khách hàng, qua các hội nghị khách hàng, qua điện thoại miễn phí, và gián tiếp qua các ấn phẩm, quảng cáo, qua các trang Web của ngân hàng, qua thư, qua sổ góp ý, sổ thuê bao,. Tính không thể tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dich vụ: Hàng hoá được sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyển đến nơi có nhu cầu. Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hoàn chỉnh.
Dó đó, nhà sản xuất có thể đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất tập trung, hàng loạt, và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung. Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện, rồi cất trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu. Do vậy, họ dễ thực hiện cân đối cung cầu. Nhưng quá trình cung cấp DV và tiêu dùng DV xảy ra đồng thời.
Người cung cấp DV và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng DV tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Một số các DV, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp DV. Khách hàng phải có mặt hưởng thụ DV, phải đến 8 địa điểm cung cấp DV. Chịu ảnh hưởng bởi quá trình cung cấp DV, thái độ của người cung cấp DV và môi trường nơi xảy ra quá trình cung cấp.
Về phần Doanh nghiệp khó đạt được tính kinh tế theo qui mô, khó đạt được sự đồng đều về chất lượng (phụ thuộc vào nhân viên cung cấp DV), khó cân bằng giũa cung và cầu DV. Mối quan hệ giữa khách hàng và người cung cấp DV có ảnh hưởng lớn đến sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng DV. Để khắc phục tính không thể tách rời của DV, ngân hàng sử dụng mạng lưới phủ dày để tiếp cận với khách hàng, sử dụng các phương tiện công nghệ hiện đại. Có chính sách quản lý nhân sự riêng (đặc biệt đối với đội ngũ những người thường xuyên tiếp xúc với khách hàng).
Xây dựng mối quan hệ thân thiết gắn bó với khách hàng. Tính không đồng nhất: Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ (thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng – nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau, nó có thể thay đổi rất nhiều). DV không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá. Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất.
Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng DV lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp DV. Sức khoẻ, sự nhiệt tình của nhân viên cung cấp DV vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau. Do vậy, khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng DV ngay trong một ngày. DV càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng.
Để khắc phục nhược điểm này, doanh nghiệp có thể thực hiện cơ giới hoá, tự động hoá trong khâu cung cấp DV, đồng thời có chính sách quản lý nhân sự đặc thù đối với các nhân viên cung cấp DV. Tuy nhiên, việc tiếp xúc với nhân viên cung cấp DV lịch sự, niềm nở cũng là một yếu tố hấp dẫn khách hàng. Mặt khác, không phải bất kỳ DV nào cũng có thể tự động hoá quá trình cung cấp được. Tính không thể cất trữ: Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời.
Nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. DV không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán. Do đó Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi mức độ hài lòng của khách hàng, chú trọng công tác quản lý chất lượng, áp dụng cơ chế sử dụng lao động linh hoạt.
Tính không chuyển quyền sở hữu: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Khi mua DV thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định. Đặc tính này ảnh hưởng đến chính sách phân phối trong Marketing DV, trong đó người cung cấp DV không được chuyển quyền sở hữu. Họ đơn thuần chỉ là người tham gia vào quá trình cung cấp DV.
Và tất nhiên, họ có ảnh hưởng đến chất lượng DV. Như vậy, vấn đề huấn luyện, hỗ trợ, tư vấn, kiểm tra đánh giá các trung gian phân phối là yếu tố cần thiết để đảm bảo chất lượng DV. Dịch vụ phi tín dụng của NHTM Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam đã được hình thành từ năm 1951 với sự ra đời của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, hoạt động theo mô hình ngân hàng một cấp. Đến thời điểm hiện tại, ngành ngân hàng đã phát triển vượt bậc cả lượng và chất, thực sự là mạch máu của nền kinh tế.
Hiện nay hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam là hệ thống ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp, được định hình và phát triển mạnh kể từ khi thực hiện việc cải cách hệ thống tài chính ngân hàng – từ năm 1990. Hệ thống Ngân hàng hiện nay gồm Ngân hàng chính sách, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam, NHTM TMHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu, NHTMCP, NH 100% vốn nước ngoài và chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. NHTM là một ngành dịch vụ nên các sản phẩm của ngân hàng đều có đặc tính phi vật chất, chỉ bắt đầu khi khách hàng đến ngân hàng chuyển đến ngân hàng các ủy 10 nhiệm của họ khi phát sinh từ hợp đồng giao dịch thương mại, tín dụng hoặc phải hoàn thành một nghĩa vụ tài chính tài đó. Dịch vụ phi tín dụng Ngân hàng ra đời và phát triển là một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế.
Ngay từ khi mới hình thành hệ thống Ngân hàng, những dịch vụ truyền thống đầu tiên đã được đưa ra nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng trên thị trường. Nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu của người tiêu dùng càng cao thì lượng dịch vụ được tạo ra càng nhiều.