CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN CHUNG VE NGAN HANG THƯƠNG MẠI VA HIEU QUA HUY DONG VON CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. TONG QUAN VE NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian, cung cấp danh mục dịch vụ tài chính đa dạng, với hoạt động cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán vì mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng trong đó phổ biến là NHTM đã hình thành tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế.
Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn đến nền kinh tế thị trường, kinh tế thị trường càng phát triển thì hoạt động NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và ngân hàng trở thành tổ chức không thê thiếu trong nền kinh tế. Đặc trưng của Ngân hàng thương mại NHTM là chủ thể thường xuyên nhận và kinh doanh tiền gửi. Qua nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển, cho thấy sản phẩm truyền thống của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay. Trong bảng cân đối kế toán, tỷ trọng của số dư tiền gửi chiếm chủ yếu bên phần Nguồn vốn của một ngân hàng và dư nợ cho vay thường chiếm từ 60-90% Tài sản.
Hoạt động của NHTM gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hoạt động thanh toán ở mỗi quốc gia. Chính nhờ hoạt động cơ bản là kinh doanh tiền gửi và là tổ chức duy nhất được nhận tiền gửi thanh toán nên các ngân hàng nảy sinh hai hoạt động mang tính riêng có là tạo tiền và tổ chức các hoạt động thanh toán qua ngân hàng. Hoạt động của NHTM đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn. Thể hiện qua đối tượng, số lượng, tính chất khách hàng có quan hệ với ngân hàng đa dạng; Chủng loại, số lượng sản phâm dịch vụ ngân hàng cung ứng phong phú; Lĩnh vực hoạt động và địa bàn hoạt động rộng lớn.
Khách hàng của NHTM là những tổ chức kinh tế (đoanh nghiệp, tập đoàn) hay các cá nhân, hộ gia đình và hộ sản xuất kinh doanh hoặc các TCTD khác. Hoạt động của NHTM diễn ra trên phạm vi rộng lớn, không chỉ có mở hàng trăm nghìn chi nhánh ở các tỉnh thành trong nước mà còn mở rộng mạng lưới các chi nhánh ở nước ngoài. Hoạt động NHTM trong nền kinh tế luôn tiềm ẩn rủi ro, là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao hơn so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc liên quan đến ngành khác và cả nền kinh tế. NHTM kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý như Chính phủ, cơ quan thuế, NHTW, cơ quan quản lý trên địa bàn hoạt động.
Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, nhạy cảm với sự biến động của thị trường. Hơn thế nữa, trong xu thế toàn cầu hóa, rủi ro tăng, một ngân hàng gặp rủi ro thì sẽ ảnh hưởng tới các chủ thê khác trong nền kinh tế, gây ra hiệu ứng Domino. Do vậy, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải có các biện pháp quản lý nghiêm ngặt nhằm mục đích các Chính sách tiền tệ quốc gia được đảm bảo thực hiện, hệ thống tài chính ngân hàng được đảm bảo an toàn, quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư được bảo vệ; từ đó tạo ra các dịch vụ toàn diện cho khách hàng. Chức năng của Ngân hàng thương mại 1.
Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội NHTM thực hiện chức năng thủ quỹ cho xã hội thông qua nhận tiền gửi của công chúng, các doanh nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng các nhu cầu rút tiền, chỉ tiêu, thanh toán của họ. Ban đầu, chức năng này xuất phát từ nhu cầu muốn đảm bảo an toàn cho tài sản và mong muốn tích lũy giá trị của công chúng và các tô chức trong xã hội, khi đó, ngân hàng đơn thuần là người giữ hộ tài sản và khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản phí để cất trữ tài sản. Về sau, ngân hàng đã sử dụng khoản tiền gửi này để cho vay và thay cho việc khách hàng phải trả phí cho ngân hàng như trước, ngân hàng sẽ trả cho khách hàng một khoản lợi tức tiền gửi. Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập của công chúng ngày càng cao, tích lũy của doanh nghiệp và cá nhân ngày càng lớn cộng thêm nhu cầu muốn bảo vệ tài sản và mong muốn sinh lời từ khoản tiền đó làm cho chức năng này càng thể hiện rõ.
Nó đem lại lợi ích cho cả Ngân hàng, người gửi tiền, làm cơ sở cho các chức năng về sau của NHTM. Chức năng trung gian thanh toán NHTM làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Nền kinh tế thị trường càng phát triển, chức năng này càng được phát huy, việc thanh toán qua ngân hàng càng được mở rộng. Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng làm thủ quỹ cho xã hội.
Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chỉ trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện vai trò trung gian thanh toán. Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thê kinh tế có nhiều hạn chế, đó là rủi do đo phải vận chuyển tiền, chỉ phí thanh toán lớn, đặc biệt là với những khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng. Chức năng trung gian thanh toán cũng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế. Trước hết, thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn.
Khả năng lựa chọn hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả. Góp phần đây nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyên vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Thứ hai, việc cung cấp một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng làm tăng uy tín cho ngân hàng và đo đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi. Hiện nay, chu chuyển vốn trong nền kinh tế thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống NHTM.
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua dịch vụ thu phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng ngu6n vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM. Chức năng làm trung gian tín dung Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM vì nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
NHTM thực hiện chức năng trung gian tín dụng khi nó là "cầu nối" giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay đề cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn về vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội.
Ngân hàng làm được chức năng này do đặc thù chuyên kinh doanh tiền tệ, tín đụng, có khả năng nhận biết được tình hình nhu cầu về tín dụng. Thông qua việc thu hút tiền gửi với một khối lượng lớn, NHTM có thê giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu tín dụng cả về khối lượng vốn và thời gian cho vay. Qua chức năng này, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đây sự phát triển của nền kinh tế: Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cũng cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chỉ tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp. Đối với NHTM, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở đề tồn tại và phát triển của NHTM. Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đây tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất.
Với chức năng này, NHTM đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyên vốn, thúc đầy sản xuất kinh doanh phát triển. Chức năng tạo tiền Chức năng tạo tiền được thực hiện trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ. Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chỉ trả của xã hội.
NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN đã áp dụng đối với NHTM, do vậy NHNN có thể tăng tỷ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.