PHẦN MỞ ĐẦU NỘI DUNG Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2. Địa điểm, thời gian, đối tƣợng, cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4. Kết quả và thảo luận KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO CÁC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 4 (LUAN.tho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.tho CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Những khái niệm chính đƣợc sử dụng trong luận văn có mối liên hệ logic và hệ thống, để tập trung vào nội dung nghiên cứu là đề xuất đƣợc giải pháp tăng cƣờng sinh kế bền vững cho cộng đồng cƣ dân sinh sống tại VQG Xuân Sơn, cụ thể: Sinh kế (Livelihood): có nghĩa là nghề nghiệp hoặc việc làm và cũng có nghĩa là con đƣờng để kiếm sống. Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống [59]. Chiến lược sinh kế (Livelihoods strategy): là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà ngƣời dân sử dụng để thực hiện mục tiêu kiếm sống: - Sự chọn lựa chiến lƣợc sinh kế phụ thuộc vào việc tiếp cận các loại vốn khác nhau; - Mỗi chiến lƣợc sinh kế cần một sự kết hợp các loại vốn khác nhau; Tuy nhiên, mỗi loại vốn có thể sử dụng cho nhiều chiến lƣợc khác nhau [8].
Sinh kế bền vững (Sustainable livelihood): Khái niệm này đƣợc hoàn thiện nội hàm bởi DFID. Sinh kế bền vững là sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tƣơng lai, trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên [59], [60]. Sinh kế thích ứng (với BĐKH) (Climate change adaptive livelihood): Sinh kế thích ứng là một hệ thống sinh kế, trƣớc hết phải có khả năng chống chịu với BĐKH/ giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trƣớc các tác động của BĐKH, đặc biệt là thiên tai/hiện tƣợng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, v.v), đảm bảo, duy trì hoặc tăng năng suất/ sản lƣợng một cách ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện KT-XH địa phƣơng [5]. Sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH (climate change adaptive sustainable livelihood: Sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH là hệ thống sinh kế, có khả năng chống chịu với BĐKH, giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trƣớc các tác động của BĐKH, đặc biệt là các hiện tƣợng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, v.v), đảm bảo, duy trì hoặc tăng năng suất, sản lƣợng một cách ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện KT-XH địa phƣơng [8].tho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.tho Tiếp cận sinh kế bền vững (The sustainable livelihoods approach): là một cách cải thiện sự hiểu biết về sinh kế của ngƣời nghèo, đƣợc dựa trên các yếu tố chính ảnh hƣởng đến sinh kế ngƣời nghèo và các mối quan hệ đặc trƣng giữa các yếu tố này.
Nó có thể đƣợc sử dụng để lên các kế hoạch hoạt động mới và đánh giá các hoạt động hiện có để tạo ra sinh kế bền vững. Cách tiếp cận này đƣa ra một khung tiếp cận giúp hiểu biết về sự phức tạp của nghèo đói đồng thời đƣa ra một bộ các nguyên tắc hƣớng dẫn hành động nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói [58]. Vườn Quốc gia (National Park): Theo luật ĐDSH đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 quy định rõ: KBT bao gồm: a) Vƣờn Quốc gia; b) Khu dự trữ thiên nhiên; c) KBT sinh cảnh – loài; d) Khu bảo vệ cảnh quan. VQG phải có đủ các tiêu chí chủ yếu sau đây: - Có HST tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại điện cho một vùng sinh thái tự nhiên; - Là nơi sinh sống tự nhiên thƣờng xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ; - Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; - Có cảnh quan môi trƣờng, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái.
Tính liên ngành của vấn đề nghiên cứu Hoạt động sinh kế, về căn bản đều do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình thiết lập trong cộng đồng. Do đó, để đánh giá đƣợc thực trạng của hoạt động này cần phải đƣa ra đƣợc mối liên hệ giữa: (1) Kết quả sinh kế; (2) Các nguồn lực sinh kế; và (3) Những yếu tố tác động đến hoạt động sinh kế nhƣ thể chế, chính sách hay những quan hệ xã hội .tho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.tho Cách tiếp cận sinh kế bề n vƣ̃ng là mô ̣t cách phân tić h toàn diê ̣n về phát triể n và giảm nghèo. Cách ti ếp cận này giúp chúng ta hiể u đƣơ ̣c viê ̣c con ngƣời sƣ̉ du ̣ng các loại vốn mình có để kiếm sống , thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo nhƣ thế nào, vì nó không ch ỉ minh họa các chiến lƣợc tìm kiếm thu nhập, mà nó còn phân tích và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồ n lƣ̣c mà các cá th ể và hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế. Vì vậy, để giải quyết đƣợc những vấn đề liên quan đến hoạt động sinh kế, cần sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ kinh tế, xã hội/văn hóa, chính sách, tài nguyên, nông nghiệp, lâm nghiệp… Chỉ khi nghiên cứu đƣa ra đƣợc những mối liên hệ bản chất giữa các yếu tố tạo nên hoạt động sinh kế của một cộng đồng dân cƣ nào đó, thì mới có thể đề xuất các giải pháp cho hoạt động sinh kế bền vững, hiệu quả hơn.
Khung phân tích vấn đề nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu là đƣa ra đƣợc giải pháp nhằm tăng cƣờng tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cƣ sinh sống tại VQG Xuân Sơn, do đó logic của nghiên cứu sẽ gồm những nội dung theo trình tự sau: 1) Đánh giá các yếu tố tác động đến hoạt động sinh kế (thể chế, tri thức bản địa, các nguồn lực và BĐKH); 2) Phân tích thực trạng sinh kế và các nguồn lực sinh kế; 3) Đánh giá tính bền vững của hoạt động sinh kế; 4) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng tính bền vững cho hoạt động sinh kế cho cộng đồng dân cƣ vùng lõi và vùng đệm, các giải pháp này nhằm: (a) xây dựng chiến lƣợc sinh kế cụ thể và (b) đƣợc cụ thể hơn bằng những kế hoạch thực hiện linh hoạt, tùy theo từng địa phƣơng. Việc thực hiện các giải pháp này cần phải đƣợc điều chỉnh, can thiệp kịp thời; và đánh giá, giám sát để đảm bảo hiệu quả của hoạt động sinh kế (Hình 1. Trong bối cảnh BĐKH đang diễn ra nhƣ hiện nay, việc gia tăng các rủi ro từ khí hậu sẽ làm gia tăng khả năng bị tổn thƣơng của những sinh kế dựa vào các nguồn TNTN. Do đó, các giải pháp sinh kế bền vững đƣợc lựa chọn phải đảm bảo tính thích ứng với BĐKH hay chính là tăng cƣờng khả năng chống chịu của sinh kế trƣớc BĐKH.tho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.tho Thể chế Điều chỉnh Các yếu tố tác động Từ Thực Đánh trên - Thể chế Giải pháp trạng giá tính Kế hoạch - Tri thức xuống Chiến lƣợc sinh kế, bền Sinh kế bền bản địa Sinh kế thực hiện vững - Các Nguồn vững thích ứng a) Vùng lõi a) Vùng lõi của hoạt b) Vùng nguồn lực lực sinh động Từ với BĐKH b) Vùng đệm a) Vùng lõi đệm sinh kế kế sinh kế dƣới b) Vùng đệm - BĐKH lên Tri thức bản địa Giám sát/ đánh giá Hình 1.
Khung phân tích vấn đề nghiên cứu Khung phân tích đƣợc xây dựng dựa vào: (i) Khung sinh kế bền vững của DFID (2007); (ii) Khung lý thuyết xây dựng sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH của Hoàng Thị Ngọc Hà (2014); (iii) Mạng lƣới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam (CCWG) và Bộ TN & MT (2016) nhằm đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu [60], [18], [8]. Trong đó, nhấn mạnh đến tính hệ thống của các vấn đề nghiên cứu. Tổng quan lịch sử nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Sinh kế Ý tƣởng về sinh kế đƣợc đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của Chambers vào những năm 1980. Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của Ellis, Barret và Reardon… Tác giả Ellis (2010) [62] cho rằng sinh kế bao gồm những tài sản, những hoạt động và cơ hội đƣợc tiếp cận đến tài sản và hoạt động đó (đạt đƣợc thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), và theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hay nông hộ. Chambers và Conway (1992) [57] cho rằng sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để đảm bảo phƣơng tiện sinh sống.tho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.tho Theo Farrington et al [63] Sinh kế có thể đƣợc diễn tả nhƣ là sự kết hợp của các nguồn tài nguyên đƣợc sử dụng và các hoạt động đƣợc thực hiện để sống. Các tài nguyên đó có thể bao gồm cả các khả năng và kỹ năng của con ngƣời (vốn con ngƣời), đất đai, tiền tiết kiệm và trang thiết bị (vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn vật chất), và các dịch vụ hỗ trợ chính thức hoặc không chính thức cho các hoạt động (vốn xã hội).
Nhƣ vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hƣởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình.2 Sinh kế bền vững * Trên thế giới Kể từ Hội nghị Thƣợng đỉnh Trái đất về Môi trƣờng và Phát triển tại Rio de Janeiro ở Brazil năm 1992, PTBV đã trở thành xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ lực hƣớng tới. Theo đó, trong phát triển nông thôn xuất hiện xu hƣớng phát triển sinh kế bền vững bao gồm cả các mục tiêu giảm nghèo [8].