Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH NHẬT BẢN 1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch 1. Khái niệm về du lịch [3] Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi chép lại một hoạt động nghỉ ngơi tích cực sau những khoảng thời gian làm việc vất vả của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, kinh tế và xã hội.
Du lịch đang phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng và của kinh tế toàn cầu nói chung. Khái niệm du lịch đã xuất hiện từ khá lâu, do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu và định nghĩa về du lịch không giống nhau. Theo Gluman: “Du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của con người hướng đến một điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ”. Và dưới còn mắt của Azar: “Du lịch là hình thức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ nước này sang nước khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc”.
Khái niệm cơ bản về du lịch được IUOTO (Internation Union of Official Travel Oragnizatinos - Liên hợp Quốc các tổ chức lữ hành) đưa ra như sau: “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”. Khái niệm du lịch quốc tế [3] Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách du lịch nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Như vậy, trong du lịch quốc tế, du khách phải đi du lịch vượt qua biên giới ít nhất hai 6 quốc gia. Ví dụ: Một du khách người Nhật đi du lịch sang Việt Nam, Thái Lan, Mỹ… 1.
Khái niệm khách du lịch quốc tế Theo giáo sư Khadginicólov – một trong những nhà tiền bối về du lịch của Bulgarie đưa ra định nghĩa về khách du lịch: “Khách du lịch là người hành trình tự nguyện, với những mục đích hòa bình. Trong cuộc hành trình của mình họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”. Theo định nghĩa của Hội nghị tại Rooma (Ý) do liên hợp quốc tổ chức về các vấn đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế (năm 1963), khách viếng thăm quốc tế (visitor) được hiểu là người đến một nước, khác nước cư trú thường xuyên của họ, bởi mọi nguyên nhân trừ nguyên nhân đến lao động để kiếm sống [3]. Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24h.
Mục đích chuyến đi của họ là tham quan, thăm thân, tham dự hội nghị, khảo sát thị trường, công tác, chữa bệnh, thể thao, hành hương, nghỉ ngơi… [10] Ở nước ta, theo Luật du lịch Việt Nam 2017, những người được thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc trưng cơ bản sau: - Là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch. - Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. Trong đề tài này, tôi chủ yếu tìm hiểu về đối tượng khách Nhật Bản vào Việt Nam mà cụ thể đến Thành Phố Đà Nẵng đi du lịch. Ngoài ra còn có các định nghĩa khác về khách du lịch như định nghĩa của Hội nghị du lịch quốc tế về du lịch ở Hà Lan 1989: “Khách du lịch quốc tế là những người đi hoặc sẽ đi tham quan một nước khác, với các mục đích khác nhau trong khoảng thời gian nhiều nhất là ba tháng, phải được cấp giấy 7 phép gia hạn.
Sau khi kết thúc thời gian tham quan, lưu trú, du khách bắt buộc phải rời khỏi đất nước đó để trở về hoặc đến nước khác”. Đặc điểm, tâm lý, nhu cầu của khách Nhật Bản 1. Đặc điểm văn hóa của người Nhật Bản [5][7][8][25] Khách Nhật có tính đồng nhất trong suy nghĩ và hành động, thị trường khách Nhật có tính dân tộc đơn nhất, ngôn ngữ, tập quán và tâm lý xã hội về cơ bản giống nhau nên nhu cầu tiêu thụ hàng hóa có tính đồng nhất rõ rệt. Do vậy nên trong khi đi du lịch nước ngoài thường xảy ra các “travel boom” (bùng nổ du lịch), tức là khách Nhật Bản ở một thời điểm nào đó thường đổ dồn đi du lịch một nơi.
Người Nhật Bản rất trọng chất lượng dịch vụ. Mức độ yêu cầu và đòi hỏi rất cao. Đối với du lịch thì khách hàng Nhật Bản yêu cầu trong sản phẩm du lịch phải có 04 yếu tố: an toàn, vệ sinh, kết hợp mua sắm, du lịch quanh năm. Truyền thống và Âu hóa hòa trộn với nhau trong cách sống của người Nhật Bản cho nên khách Nhật Bản có khuynh hướng tiêu dùng nhiều màu sắc, hiện đại và độc đáo.
Người Nhật luôn có nhu cầu đổi mới hàng hóa, sản phẩm, thích sản phẩm mới chất lượng tốt hơn. Họ có một số tiêu chuẩn riêng biệt nhất định như thích sản phẩm nổi tiếng thế giới, sản phẩm có công nghệ truyền thống, độc đáo của các dân tộc…Người Nhật Bản là những người rất có kỷ luật, xã hội của họ phân chia thành những nhóm có sự liên kết rất chặt chẽ. Sự gắn bó mạnh mẽ vào các tập thể cũng có mặt trái của nó. Nó có thể khơi dậy tình cảm bài trừ người nước ngoài, thậm chí thường những tập thể lớn hơn và có thế lực hơn mà họ cũng phụ thuộc vào đó.
Họ tuân thủ các tác phong và nghi thức giúp kiềm chế chủ nghĩa cá nhân và người lãnh đạo nhóm có thể trông đợi vào một sự phục tùng mù quáng, và lợi dụng tập thể cho mục đích cá nhân. Nó cũng có thể khóa chặt cuộc đời con người trong tập thể suốt đời. Lấy sự hài hoà làm gốc rễ của đạo đức: Du khách Nhật ít khi biểu lộ 8 sự không hài lòng một cách trực tiếp. Nếu chất lượng tour du lịch có vấn đề, họ thường gửi thư hoặc thông qua đại lý.
Vì vậy để tìm hiểu mức độ hài lòng của du khách Nhật Bản để tránh những vướng mắc về sau, đơn giản có thể thông qua các phiếu điều tra, bảng hỏi gửi cho khách. Khách hàng là thượng đế: Đây là nguyên tắc thứ hai của người Nhật, họ cho rằng người trả tiền luôn có vị thế cao hơn người nhận tiền. Vì vậy du khách Nhật Bản có phần khó tính, nhiều yêu cầu, thường hay phàn nàn và luôn đòi hỏi sự phục vụ với chất lượng cao nhất, họ thường không dễ thích nghi với những điều kiện thiếu thốn tại điểm du lịch. Tính đúng giờ: Đúng giờ là một nguyên tắc sống rất quan trọng của người Nhật và cảm thấy không hài lòng khi phải chờ đợi.
Khi đi du lịch, người Nhật rất quan tâm tới việc bảo vệ sức khoẻ, tới vấn đề an ninh và an toàn. Chính vì vậy, những yếu tố bất ổn của môi trường du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đi du lịch của người Nhật. Những vấn đề như khủng bố, dịch bệnh (SARS, cúm gia cầm,.) đã làm giảm sút nghiêm trọng số lượng du khách Nhật Bản đi du lịch nước ngoài. Trọng sự sạch sẽ: Người Nhật rất trọng sự sạch sẽ trong cuộc sống thường nhật cũng như khi đi du lịch.
Vì quá sạch sẽ nên đôi khi khả năng miễn dịch của họ rất yếu, vì vậy mà du khách Nhật rất cẩn trọng trong vấn đề vệ sinh và ăn uống. Hiểu ngôn ngữ và văn hoá. Số ít người Nhật sử dụng thuần thục được tiếng Anh, vì thế mà một trong những yêu cầu rất quan trọng khi phục vụ khách Nhật đó là sự cần thiết của đội ngũ hướng dẫn viên tiếng Nhật cần chuyên nghiệp và đông đảo hơn nữa. Cách tắm đặc biệt: Khách du lịch Nhật Bản thường chọn phòng tắm có bồn và có vòi hoa sen.
Cách tắm của họ cũng rất đặc biệt. Họ ngâm mình trong bồn tắm từ 5 - 10 phút sau đó ra khỏi bồn kì cọ rồi lại vào bồn ngâm tiếp. Các chuyên gia người Nhật trong lĩnh vực du lịch đã tổng kết một số 9 vấn đề cần lưu ý trong khi phục vụ khách du lịch Nhật Bản và khái quát thành 5C+1S là Comfort (tiện nghi); Convenience (sự thuận tiện); Cleanliness (sự sạch sẽ); Courtesy (Sự nhã nhặn); Curiosity (thỏa mãn tính hiếu kì); Safety and Security (vấn đề an toàn và an ninh). Bên cạnh nguyên tắc 5C + 1S khi phục vụ du khách Nhật Bản, người làm du lịch cũng không thể quên 5 chữ “S” quan trọng của kinh doanh dịch vụ bao gồm: Smile (nụ cười), Speed (sự nhanh nhẹn), Sureness (sự chắc chắn), Smartness (sự khéo léo), Sincerity (sự chân thành).
Đặc điểm khi đi du lịch của khách Nhật Bản [5][7][8][24][25] Thị trường khách du lịch Nhật Bản rất đa dạng và phong phú. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thị trường để có thể nắm vững thị hiếu và nhu cầu của từng phân đoạn thị trường khách du lịch Nhật Bản sẽ nâng cao được chất lượng dịch vụ du lịch. Sau đây là đặc điểm của một số thị trường khách du lịch tiêu biểu khi đi du lịch: Giới học sinh, sinh viên: Thường đi theo đoàn và kinh phí do Nhà nước cấp, nhu cầu tương đối đơn giản, thường trọng tính kinh tế của dịch vụ cung cấp, ưa thích đồ ăn châu Âu, món ăn nhanh và các món ăn địa phương, thường quan tâm tìm hiểu văn hoá,. Giới nữ trẻ có độ tuổi trung bình từ 20-30: Giới nữ trẻ có độ tuổi trung bình từ 20-30, chưa lập gia đình có nghề nghiệp và thu nhập khá ổn định nhưng vẫn có sự trợ giúp rất lớn của gia đình, họ rất sành điệu trong tiêu dùng nhưng cũng rất quan tâm đến tính kinh tế của dịch vụ, sở thích của họ là mua sắm, thời trang, đồ trang sức, sản phẩm lưu niệm của địa phương.
Các gia đình: Họ thường quan tâm tới thực đơn riêng cho trẻ em, ưa thích các hoạt động nghỉ ngơi, thư giãn, vui chơi giải trí, thể thao.Đối tượng khách là gia đình thường thích ở phòng rộng, thích các khách sạn có bể bơi riêng và có dịch vụ trông trẻ.