CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI 1. Đặc điểm thuế trong lĩnh vực thương mại 1. Khái niệm thuế Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình, Nhà nước chỉ có thể dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập cho Nhà nước. Hình thức đóng góp ấy chính là thuế.
Có rất nhiều khái niệm về thuế trên các góc độ khác nhau: Các nhà kinh điển cho rằng “thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và thuế cấu thành nên phần thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”. [Lênin toàn tập – tập 15] Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ ngân sách của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước. Từ những khái niệm trên có thể đưa ra một khái niệm về thuế như sau: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Đặc điểm thuế trong lĩnh vực thương mại Doanh nghiệp, hộ kinh doanh trong lĩnh vực thương mại thường hoạt động theo những phương thức như: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, môi giới thương mại, đại lý mua bán hàng hóa, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa, hội chợ triển lãm thương mại., các doanh nghiệp thương mại không sản xuất trực tiếp ra hàng hóa, thường làm trung gian mua bán, trao đổi hàng hóa.
Vì 8 vậy, các tổ chức kinh doanh thương mại có vòng quay vốn nhanh hơn, tỷ suất lợi nhuận thấp hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, việc hạch toán kế toán cũng đơn giản hơn vì doanh nghiệp thương mại không phải hạch toán giá thành sản phẩm mà chỉ hạch toán hóa đơn đầu vào và đầu ra, chính vì những đặc điểm như vậy mà hoạt động kê khai thuế của doanh nghiệp được diễn ra nhanh chóng hơn, đơn giản hơn. Ngoài ra, các đơn vị kinh doanh thương mại thường có lượng hàng tồn kho nhỏ hơn doanh nghiệp sản xuất rất nhiều, vì vậy mà rủi ro trong kinh doanh thấp hơn các doanh nghiệp sản xuất, điều này cũng làm giảm tình trạng thất thu thuế của doanh nghiệp thương mại. Ngoài những đặc điểm riêng về thuế trong lĩnh vực thương mại thì thuế có những đặc điểm chung áp dụng cho mọi lĩnh vực: Thứ nhất, tính bắt buộc. Thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế.
Đặc điểm này được thể chế hóa trong mỗi quốc gia. Trong mỗi quốc gia, việc đóng thuế cho Nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc của các tổ chức kinh tế và công dân. Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ đóng thuế của mình tức là họ đã vi phạm luật pháp của quốc gia đó. Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rằng thuế là biện pháp tài chính mang tính chất bắt buộc của Nhà nước, nhưng sự bắt buộc đó luôn được xác lập dựa trên nền tảng của các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quan hệ kinh tế quốc tế.
Thứ hai, tính không hoàn trả trực tiếp: Nhà nước thu thuế từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân nhưng không phải hoàn trả lại trực tiếp cho người nộp thuế với một khoản tiền mà họ đã nộp vào Ngân sách Nhà nước. Nhà nước sẽ sử dụng số tiền thuế thu được vào những chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và của mọi cá nhân trong xã hội. Lợi ích từ việc nộp thuế sẽ được hoàn trả gián tiếp thông qua các dịch vụ công cộng của nhà nước cho cộng đồng và xã hội. Thứ ba, tính pháp lý cao: tính pháp lý được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước.
Được thể hiện thông qua các quy định cần thiết về phạm vi, hình 9 thức và các thủ tục, quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế như: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. Sự cần thiết khách quan phải tăng cường quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại Ngày nay, trên thị trường các doanh nghiệp và hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực thương mại ngày càng tăng. Vì vậy, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thương mại sẽ đem lại nguồn thu không nhỏ cho NSNN, điều này đồng nghĩa với việc các cơ quan thuế nói chung và các Chi cục thuế nói riêng phải tăng cường công tác quản lý thuế trong lĩnh vực này để đảm bảo nguồn thu, tránh thất thu cho NSNN. Có thể thấy, quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các Chi cục thuế.
Bởi số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực thương mại chiếm đa số trong các doanh nghiệp, hộ kinh doanh đang hoạt động trên thị trường. Thực hiện tốt công tác quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại sẽ có nhiều tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế vào NSNN của Chi cục thuế. Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại nói riêng có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN, công tác quản lý thuế tại các Chi cục thuế gắn liền với hầu hết các hoạt động về thuế. Nhờ có hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật quản lý thuế.
Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế. Trên cơ sở đó các Chi cục thuế có thể đề xuất bổ sung sửa đổi các luật thuế sao cho phù hợp với thực tiễn, phù hợp với đặc thù của các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực thương mại. Thông qua quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trong 10 lĩnh vực thương mại. Theo quy định của pháp luật thuế, người nộp thuế có trách nhiệm phải kê khai thuế.
Nội dung kê khai thuế là kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, tức là phải kê khai các hoạt động kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh doanh của người nộp thuế. Mặt khác, để quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại, Chi cục thuế phải tổ chức thu thập, nắm bắt, lưu giữ thông tin, tổ chức kiểm tra về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh thương mại. Như vậy, có thể thấy, thông qua quản lý thuế, Nhà nước đã thực hiện kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực thương mại. Từ việc kiểm soát các hoạt động kinh tế này, Nhà nước có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hướng Nhà nước.
Nội dung quản lý thuế trong lĩnh vực thương mại của các Chi cục thuế 1. Tuyên truyền và hỗ trợ doanh nghiệp, các hộ kinh doanh nộp thuế 1.Tuyên truyền về thuế Tuyên truyền về thuế là việc Chi cục thuế sử dụng các hình thức, phương tiện để cung cấp, truyền bá thông tin về pháp luật thuế đến với mọi người dân nhằm giúp họ hiểu rõ bản chất và ý nghĩa của việc nộp thuế, quyền và nghĩa vụ của mình trong việc nộp thuế. Có hai hình thức tuyên truyền về thuế đó là: Xuất bản các ấn phẩm về thuế: Với hình thức này Chi cục thuế phát hành các ấn phẩm về thuế như các tờ rơi, các cuốn sổ tay luật thuế để phát miễn phí cho đối tượng nộp thuế. Để có hiệu quả các ấn phẩm này cần được soạn thảo ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu.
Nội dung của các ấn phẩm này thường là tóm tắt các quy định pháp luật về đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, trách nhiệm, quyền hạn của đối tượng nộp thuế, các thời hạn nộp tờ khai thuế, nộp thuế, các hồ sơ thủ tục về thuế. Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Việc tuyên truyền pháp luật thuế có thể thực hiện thông qua các phương tiện thông tin đại 11 chúng như báo, đài phát thanh, đài truyền hình. Đây được xem như là hình thức phổ biến và hiệu quả nhất khi thực hiện hoạt động tuyên truyền pháp luật thuế. Việc tuyên truyền trên phương tiện truyền thông đại chúng nhằm mục tiêu chủ yếu là cung cấp, giới thiệu, phổ biến pháp luật.
Hỗ trợ đối tượng nộp thuế Hỗ trợ đối tượng nộp thuế là loại dịch vụ công do Chi cục thuế cung cấp để hỗ trợ đối tượng nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Các hình thức hỗ trợ người nộp thuế: Giải đáp qua điện thoại: Việc trả lời các câu hỏi về nội dung pháp luật thuế, các thủ tục thuế có thể được thực hiện trực tiếp trên điện thoại bởi nhân viên của Chi cục thuế hoặc có thể thực hiện qua hộp thư trả lời tự động do Chi cục thuế thiết kế. Các cuộc tư vấn trực tiếp: Các cuộc tư vấn trực tiếp có thể tư vấn giữa một đối tượng nộp thuế có nhu cầu với một cán bộ trong bộ phận hỗ trợ nộp thuế ( tư vấn mặt đối mặt), cũng có thể là việc tư vấn theo nhóm giữa một hoặc một vài cán bộ thuế với một nhóm đối tượng thuế. Giải đáp bằng văn bản: Việc giải đáp bằng văn bản có thể giải đáp bằng văn bản công tác (chủ yếu là công văn trả lời của Chi cục thuế) hoặc có thể là trả lời qua thư điện tử.
Trả lời bằng hình thức công văn được thực hiện khi đối tượng nộp thuế có công văn hoặc thư công tác gửi cho Chi cục thuế yêu cầu được trả lời bằng văn bản. Trả lời qua thư điện tử là một phương thức giao dịch hiện đại. Với hình thức này đối tượng nộp thuế và Chi cục thuế hỗ trợ giao dịch qua thư điện tử của mạng máy tính điện tử.