PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Đất nước Việt Nam đang thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020. Trước yêu cầu của nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hội nhập ngày càng sâu rộng với nhiều cơ hội và thách thức. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trách nhiệm của ngành tài chính nói chung và ngành thuế nói riêng rất to lớn và nặng nề.
Sau 70 năm xây dựng và phát triển, ngành Thuế nói chung cũng như Cục Thuế Hà Tĩnh nói riêng đã và đang từng bước hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước. Đồng hành cùng đất nước trong từng giai đoạn lịch sử, cán bộ ngành thuế Hà Tĩnh đã khắc phục mọi khó khăn, vượt qua mọi thách thức để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh, khu vực hộ kinh doanh đã thể hiện vai trò đối với nền kinh tế về số lượng tham gia hoạt động SXKD ở nhiều lĩnh vực ngành nghề, kinh doanh ở hầu hết các vùng địa lý trong cả nước và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, đặc điểm về kinh doanh của khu vực này là trình độ kinh doanh, khả năng tuân thủ pháp luật thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng của các chủ thể chưa cao, do hầu hết các hộ kinh doanh hoạt động ở quy mô nhỏ, chủ yếu là phát triển kinh tế gia đình nhằm tăng thu nhập, kinh doanh theo kinh nghiệm, chưa thực hiện chế độ sổ sách kế toán.
Bên cạnh đó, các dạng thức của HKD phải quản lý thuế cũng rất phức tạp: có dạng hộ chưa đến mức phải nộp thuế GTGT chỉ phải thu thuế môn bài, có HKD đến mức phải nộp thuế, HKD ngừng nghỉ không nộp thuế, hộ không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh theo mùa vụ, không thường xuyên, không có địa điểm kinh doanh cố định. Chính vì vậy mà dù tỷ lệ đóng góp trong tổng thu NSNN không cao (trung bình khoảng 1,4%), song do số lượng khá đông, phạm vi phủ sóng rộng khắp các địa bàn, nên việc quản lý thuế đối với HKD thường tốn nhiều chi phí hơn so với các 2 nhóm đối tượng khác, nhất là về nhân lực. Theo đó, ngoài số cán bộ thuế trực tiếp quản lý chiếm khoảng 26% tổng số CBCC toàn ngành thuế Hà Tĩnh, quản lý HKD còn phải huy động sự tham gia của đại diện các ban, ngành, chính quyền địa phương (hội đồng tư vấn thuế xã, phường) và của cả người dân trong việc xác định doanh thu và mức thuế đảm bảo sát với thực tế phát sinh. Đáng chú ý hơn nữa, trong lĩnh vực này, tham nhũng diễn ra khá phổ biến, nhưng cải cách liên quan đến khu vực kinh tế này gần như không có.
Nhận thấy thực trạng quản lý thuế HKD còn nhiều vấn đề cần xem xét, đặc biệt về thuế GTGT, loại thuế luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng số thu thuế đối với HKD, việc thực thi chính sách thuế giá trị gia tăng có hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo ổn định cho nguồn thu thuế khu vực hộ kinh doanh. Tình hình quản lý thu thuế GTGT đối với HKD tại Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh trong những năm gần đây đã từng bước phát triển, song hiệu quả thu thuế GTGT đối với HKD còn chưa cao so với tiềm năng và còn nhiều vấn đề cần phải xem xét, giải quyết. Vậy thực trạng QLT thuế GTGT hộ kinh doanh tại Cục Thuế Hà Tĩnh như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh hưởng? Nguyên nhân từ đâu? Cần có định hướng và biện pháp chủ yếu nào để tăng cường quản lý thuế đối với HKD tại Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh. Xác định đây là một trong những nút thắt cần phải nhanh chóng tháo gỡ, ngành thuế tỉnh Hà Tĩnh cần phải tập trung nghiên cứu đề ra các biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm thúc đẩy quá trình cải cách thuế GTGT hộ kinh doanh, tạo sự minh bạch, công bằng trong kinh doanh, tránh tiêu cực, tham nhũng, ko gây thiệt thòi cho hộ kinh doanh, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách của tỉnh và Trung ương đề ra.
Với lý do trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tăng cƣờng quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh tại cục thuế tỉnh Hà Tĩnh”, có ý nghĩa thiết thực, mang tính thời sự cấp bách về mặt lý luận và thực tiễn góp phần thực hiện thành công công cuộc cải cách quản lý thuế, tăng cường QLT nói chung và thuế GTGT hộ kinh doanh nói riêng. Tổng quan nghiên cứu Nghiên cứu về thuế HKD nói chung, quản lý thuế GTGT đối với HKD nói riêng đến nay có rất nhiều đề tài, nghiên cứu dưới các góc độ cũng như tại các địa bàn khác nhau: Bài viết “Tax Administration in OECD and Selected Non – OECD countries” năm 2009 trích từ trang web http://www.org/document của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã chỉ ra đối với QLT, các nước OECD chú trọng về tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của CQT; quản trị chiến lược trong QLT; tổ chức quản lý thu thuế và xây dựng cơ sở pháp lý cho quản lý thuế. Trong đó, quản trị chiến lược trong QLT bao gồm một số nội dung như lên kế hoạch chiến lược về quản lý thuế cho cơ quan thuế, đánh giá việc thực hiện của cơ quan thuế. Lên kế hoạch chiến lược về quản lý thuế là một công việc rất quan trọng đối với cơ quan thuế, cơ quan thuế được yêu cầu trả lời một số câu hỏi cơ bản như: Có đáp ứng những yêu cầu và mục đích nhất định phù hợp với mục tiêu ngân sách hàng năm? Cơ quan thuế có chuẩn bị và công bố công khai kế hoạch hoạt động (hàng năm hoặc cho nhiều năm)? Cơ quan thuế có chuẩn bị và xuất bản một báo cáo hàng năm về hoạt động của mình? Cơ quan thuế có công khai kết quả cung cấp dịch vụ mà nó đạt được so với chuẩn đề ra? Cơ quan thuế có thường xuyên khảo sát đối tượng nộp thuế về việc cung cấp dịch vụ của cơ quan thuế và việc quản trị luật thuế?.
Sau khi lên kế hoạch chiến lược cần phải xây dựng các mục tiêu và đo lường nó, nhờ đó cơ quan thuế có mục tiêu rõ ràng để phấn đấu thực hiện. Bài viết đã đưa ra kế hoạch hoạt động và một số chỉ tiêu thực hiện về QLT của các nước như đơn giản hóa thuế, giải quyết quyền của người nộp thuế, thúc đẩy tính tự nguyện tuân thủ luật thuế, chống trốn thuế và thu hồi thuế bị trốn, tuy nhiên đây là những chỉ tiêu mang tính chất chung về quản lý thuế. Đề tài “ Đổi mới và hoàn thiện hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Mai Phương (2003) của Viện Khoa học Tài chính đã khái quát những vấn đề lý luận về QLT, các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thuế, đưa ra một số mô hình cơ chế tổ chức ngành thuế, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả 4 quản lý thuế trong điều kiện của Việt Nam. Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập đến được một số vấn đề lý thuyết cơ bản như nội dung và các phương thức quản lý thuế.
Một số nhận xét về cải cách quản lý hành chính thuế ở một số nước trên thế giới được tác giả nêu ra là phong phú nhưng các bài học cho Việt Nam chưa rõ, các giải pháp chưa có tính đột phá để cải thiện cơ bản về quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay. Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thuỳ Dương thực hiện năm 2011 tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân với đề tài: “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã nêu ra quan điểm riêng về khái niệm quản lý thuế: “Quản lý thuế là quá trình Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động lên đối tượng của quản lý thuế làm cho chúng vận động phù hợp với mục tiêu đặt ra”, đồng thời cũng xác định rằng, đối với điều kiện hội nhập ngày nay, những tiêu chí để đánh giá một hệ thống thuế tốt đòi hỏi phải xét đến mối quan hệ giữa người nộp thuế với cơ CQT, quan hệ giữa các công chức thuế, các tiêu chí về lập pháp, đặc điểm về quản lý nhằm đảm bảo tính linh hoạt trong quản lý thuế. Bên cạnh đó, luận án còn đề xuất những giải pháp tăng cường hiệu quả QLT ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế với các nội dung như: “Giải quyết tốt mối quan hệ với đối tượng nộp thuế như giảm thấp chi phí tuân thủ, tăng cường giao tiếp thông tin với đối tượng nộp thuế; Xây dựng mô hình phân tích để dự báo và ứng dụng vào quản lý thuế; tăng cường lập báo cáo, thống kê và tổng hợp trong quản lý thuế; Bổ sung trong Luật Quản lý thuế các quy định về giao dịch điện tử”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là phân tích và nhận diện những vấn đề còn tồn tại trong quản lý thuế giá trị gia tăng HKD trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua, xác định được nhân tố ảnh hưởng.
Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường tác dụng tích cực việc quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh góp phần vào sự thành công của công cuộc cải cách thuế trong giai đoạn tiếp theo, đạt đến một mục tiêu dài hạn là có một cơ quan thuế hiện đại, công bằng, minh bạch. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế GTGT hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Phạm vi nghiên cứu - Không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Thời gian: Để phục vụ đề tài nghiên cứu, tác giả thu thập số liệu, tài liệu về hộ, cá nhân kinh doanh tại Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2011-2015 và đề xuất các giải pháp đến năm 2020. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.