CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG VÀ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO 1. Các khái niệm cơ bản về năng lượng và năng lượng tái tạo 1. Năng lượng [15] Năng lượng theo lý thuyết tương đối của Albert Einstein là một thước đo khác của lượng vật chất được xác định theo công thức E = mc².
Nó bằng khối lượng nhân với bình phương tốc độ ánh sáng trong chân không. Đơn vị đo năng lượng trong hệ đo lường quốc tế là kg (m/s)², (Wikipedia, 2010). Từ thời cổ, con người đã biết tận dụng năng lượng để duy trì cuộc sống. Họ sử dụng lửa để nấu ăn, sưởi ấm và xua đuổi thú dữ trong rừng.
Năng lượng mặt trời tạo ra ánh sáng và nhiệt năng, làm khô quần áo, thực phẩm, quang năng giúp cây cối phát triển. Thực vật là thức ăn hàng ngày của một số động vật. Chúng lại trở thành mồi ngon của các động vật ăn thịt và con người. Cứ như thế, năng lượng được tích tụ và chuyển hóa từ mắt xích này sang mắt xích khác thông qua chuỗi thức ăn và là tiền đề cho mọi hoạt động của thế giới sống.
Ngày nay, phát triển kinh tế cần phải có một nguồn năng lượng ổn định cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Do đó việc nhập khẩu năng lượng luôn đi đôi với sản xuất và khai thác các nguồn năng lượng trong nước. Chính vì thế những nghiên cứu về khoa học năng lượng trở nên vô cùng bức thiết. Hiện nay, trên thế giới người ta luôn tìm kiếm các nguồn năng lượng mới và có ưu điểm về khả năng sản xuất, chi phí khai thác, hiệu quả sử dụng, an toàn đối với môi trường và có tính cạnh tranh.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, hệ quả đối với xã hội và môi trường cũng được xem xét đến trong các chính sách về năng lượng. Tùy theo các tiêu chí khác nhau mà năng lượng được chia làm nhiều loại khác nhau. Theo khả năng tái tạo, năng lượng được chia ra làm năng lượng tái tạo và không tái tạo. Trong đó các nguồn năng lượng tái tạo được xem như có khả năng 6 sử dụng vĩnh viễn bao gồm : bức xạ Mặt trời, năng lượng gió, dòng chảy, sóng biển, địa nhiệt.
Các nguồn năng lượng không tái tạo nhưng có khả năng sử dụng vĩnh viễn như năng lượng nguyên tử và hạt nhân. Năng lượng không tái tạo và có giới hạn như năng lượng của các loại hóa thạch : than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên… hoặc có nguồn gốc động, thực vật như gỗ, củi, phân súc vật… Theo khả năng gây ô nhiễm đối với môi trường ta có năng lượng sạch và năng lượng gây ô nhiễm… Phần lớn các nguồn năng lượng tái tạo đều được xem như nguồn năng lượng sạch, ít gây ô nhiễm. Năng lượng truyền thống [11, tr. 133-134] Từ thời xa xưa con người đã biết khai thác củi, gỗ… để phục vụ nhu cầu sinh sống hàng ngày của mình.
Dần dần do nhu cầu tăng lên con người đã biết khai thác than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên… Vào thế kỷ XVIII, XIX con người lại phát hiện ra điện và các định luật về điện. Năm 1877, Thomas Edison phát minh ra bóng đèn điện mở ra một trang mới trong lịch sử sử dụng năng lượng của con người (Wikipedia, 2010). Các dạng năng lượng truyền thống mà con người sử dụng bắt nguồn từ các tài nguyên năng lượng không tái tạo, có thể kể ra một số tài nguyên năng lượng cơ bản sau : a) Than đá Than đá là nguồn năng lượng chủ yếu của loài người với tổng trữ lượng 2000 tỷ tấn, rải rác trên toàn cầu tập trung chủ yếu ở các quốc gia : Nga, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Australia… Than đá được sử dụng để đun nấu, sưởi ấm, dùng trong các ngành công nghiệp luyện kim, xi măng, vật liệu xây dựng, sản xuất điện… Trữ lượng than có thể đáp ứng cho con người trong khoảng 200 năm. Tuy nhiên việc khai thác và tiêu thụ than gây ra hàng loạt hậu quả về môi trường như ô nhiễm khói bụi, chất thải đất đá, mất rừng, nước thải than chứa các kim loại nặng, các loại khí độc như SO2, CO2, NOx… (Lê Văn Khoa, 2002).
b) Dầu mỏ và khí đốt 7 Hình thành từ các loại động, thực vật trầm tích và nén ép trong thời gian khá dài tạo ra. Dầu mỏ và khí đốt đã và sẽ là nguồn năng lượng quan trọng trong cơ cấu năng lượng của loài người trong tương lai. Các mỏ dầu phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung ở vùng Trung Đông, quanh các thềm lục địa thuộc Biển Đông, vịnh Mexico… Dầu mỏ và khí đốt vừa là các nguồn năng lượng vừa là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp hóa dầu. Việc khai thác dầu và khí thiên nhiên có thể gây nên tình trạng sụt lún của vỏ trái đất, ô nhiễm dầu đối với môi trường đất, nước và không khí.
Hơn 50% lượng dầu ô nhiễm trên biển gây ra do khai thác trên biển. Ngoài ra chúng còn tạo ra nhiều loại khí độc khi đốt gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người (Lê Văn Khoa, 2002). Dự báo nhu cầu tiêu thụ năng lượng của thế giới đến 2020 cho thấy dầu mỏ, khí thiên nhiên và than đá vẫn chiếm cơ cấu quan trọng trong tổng nguồn cung năng lượng sử dụng. Than đá chiếm 32% nhu cầu tiêu thụ năng lượng của thế giới đến 2020, dầu mỏ (17%), khí đốt thiên nhiên (18%), thuỷ năng (7%), năng lượng nguyên tử (12%), trong khi đó các nguồn khác chỉ chiếm 14%.
Năng lượng tái tạo (Renewable energy) và các dạng năng lượng tái tạo 1. Khái niệm về năng lượng tái tạo [11, tr.128] Đây là dạng năng lượng hầu như vô hạn hoặc được tái sinh từ những quá trình tự nhiên. Mặt trời là nguồn cung cấp năng lượng và ánh sáng khổng lồ cho trái đất chúng ta. Nhiệt năng của mặt trời lại tạo ra nguồn địa nhiệt trong lòng đất, các vận động của thủy triều, gió, sóng biển, dòng chảy trên bề mặt địa cầu, các hoạt động quang hợp của cây xanh….
tổng hợp thành một nguồn năng lượng vô tận phục vụ cho đời sống con người. Suy cho cùng nguồn gốc của các dạng năng lượng tái tạo cũng đều phát xuất từ năng lượng mặt trời. Năng lượng tái tạo khác hẳn với dạng năng lượng không tái tạo. Đây cũng là một trong những nguồn năng lượng mới đang thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của 8 nhiều nhà khoa học, nhằm góp phần giải quyết những nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng trên thế giới và sự cạn kiệt dần của các nguồn năng lượng không được tái tạo.
Hơn nữa nó là dạng năng lượng sạch, không gây ô nhiễm môi trường, và hiệu ứng nhà kính do hầu như không phát thải CO2 vào khí quyển. Ngoại trừ một số nguồn năng lượng như điện gió, thủy điện, năng lượng sinh khối thì việc phát triển các nguồn năng lượng sạch không đòi hỏi nhiều diện tích. Dưới đây là bảng thống kê cho ta thấy diện tích đất cần để sản xuất 1 tỷ kW/h (1 GW/h) điện năng từ các nguồn năng lượng khác nhau : (Xem bảng 1. So sánh diện tích đất cần để sản xuất 1 tỷ kW/h(1 GW/h) điện năng từ các nguồn năng lượng khác nhau Loại năng lượng ban đầu Diện tích sử dụng (ha) Nhiệt điện mặt trời 1.800 Quang điện mặt trời 2.000 Năng lượng điện chạy bằng sinh khối 200.000 Điện hạt nhân 68 Nhiệt điện chạy bằng than đá 90 Điện địa nhiệt 40 (Nguồn : Pimentel et al 1984), (Lê văn Khoa, 2002) 1.
Các dạng năng lượng tái tạo a) Năng lượng mặt trời [4, tr.155] Trong Thái dương hệ của chúng ta Mặt trời là ngôi sao trung tâm và cũng là một lò phản ứng tổng hợp nhiệt hạch (nuclear fusion) khổng lồ. Quá trình tổng hợp 9 hạt nhân của hai nguyên tử hydrogen (H2) thành một nguyên tử heli (He) đã tạo ra một nhiệt độ rất cao lên đến 60000C trên bề mặt Mặt trời và giải phóng một nguồn năng lượng rất lớn. Năng lượng Mặt Trời phát ra và lan truyền dưới dạng sóng điện từ hay bức xạ điện từ là nguồn năng lượng cơ bản bảo đảm cho sự tồn tại của Trái đất trong vòng 5 tỷ năm qua. Dòng năng lượng này sẽ tiếp tục phát ra cho đến khi phản ứng hạt nhân trên Mặt Trời hết nhiên liệu, vào khoảng 5 tỷ năm nữa.
Mỗi giây trôi qua, Mặt Trời giải phóng ra không gian xung quanh 3,827×1026 joule. Ngoài khí quyển Trái Đất, mỗi một mét vuông diện tích vuông góc với ánh nắng Mặt Trời, thu được dòng năng lượng khoảng 1.400 joule một giây (Wikipedia, 2010). Cường độ dòng NLMT đến Trái đất trung bình khoảng 2 cal/cm2 trong một phút. Năng lượng Mặt Trời là một nguồn năng lượng tái tạo quý báu đối với cuộc sống của loài người và cả các sinh vật (Lê Văn Khoa, 2002).
Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng mà con người biết sử dụng từ rất sớm. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XIX, ở Pháp các nhà khoa học mới làm những thí nghiệm về động cơ chạy bằng NLMT. Augustin Mouchot đã sáng chế động cơ hơi nước chạy bằng NLMT vào năm 1866 (Nguyễn Cẩn, Phạm Thu Hòa, 2009). Năng lượng Mặt Trời có thể chuyển thành điện năng thông qua hiệu ứng quang điện (photovoltaic) bằng các thiết bị pin Mặt Trời.
Năng lượng Mặt Trời cũng có thể làm nóng các vật thể, chuyển thành nhiệt năng, sử dụng cho máy nước nóng sử dụng năng lượng Mặt Trời, hoặc trong các lò nung sử dụng NLMT. Năng lượng Mặt trời cũng có thể được hấp thụ và chuyển hóa thành năng lượng trong các phản ứng quang hóa. Một phản ứng quang hóa tự nhiên là quá trình quang hợp. Quá trình này đã tích tụ năng lượng Mặt Trời vào các nguồn nhiên liệu hóa thạch mà các nền công nghiệp hiện nay đã và đang tận dụng và cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sinh học tự nhiên trên Trái đất.
* Một số ứng dụng NLMT phổ biến hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam: [15], [22, tr. 174, 190] Pin mặt trời 10 Pin mặt trời (solar cell) là từ gọi tắt của pin năng lượng mặt trời (hay pin quang điện, tế bào quang điện), đã được Russel Ohl người Mỹ sáng chế đầu tiên từ silíc (Si) với hiệu suất thấp (1941). Silíc là một nguyên tử có thể liên kết với nhau để tạo thành chất rắn. Có hai loại chất rắn silíc cơ bản là silíc thù hình với các nguyên tử được sắp xếp hỗn độn và silíc tinh thể có các nguyên tử được sắp xếp theo trật tự.