Chương 1: Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu sinh kế cộng đồng dân cư ở KBTTN Chương 2: Thực trạng sinh kế cộng đồng dân cư ở KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Các giải pháp sinh kế bền vững đề xuất cho cộng đồng ở KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SINH KẾ CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU SINH KẾ CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 1.1 Khu bảo tồn thiên nhiên và phân hạng Khu bảo tồn thiên nhiên * Khái niệm về Khu bảo tồn thiên nhiên Theo IUCN, 1994: “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”[15]. Như vậy, định nghĩa của IUCN đã khẳng định bảo tồn ĐDSH là mục tiêu cơ bản của KBTTN. Theo Luật Đa dạng sinh học Việt Nam được ban hành tháng 11 năm 2008: “KBTTN là khu vực địa lý được xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn đa dạng sinh học”[1].
Như vậy, cũng giống như IUCN, định nghĩa này cũng nói lên mục tiêu chính của việc thành lập KBT là nhằm để bảo tồn ĐDSH. Luận văn định nghĩa được nêu trong Luật đa dạng sinh học Việt Nam. * Hệ thống phân hạng quốc tế KBTTN theo IUCN Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ thứ 19. Vườn quốc gia Yellowstone là Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872.
Trong quá trình hình thành và phát triển các khu BTTN, mỗi nước đều có cách tiếp cận riêng, không có các tiêu chuẩn hoặc thuật ngữ chung, điều này gây trở ngại cho việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm về khu BTTN trong phạm vi khu vực và toàn cầu (IUCN, 2008)[15]. Hệ thống phân hạng quốc tế khu BTTN đầu tiên được IUCN xây dựng và công bố năm 1978 - gọi là Hệ thống phân hạng 1978, gồm 10 phân hạng. Hệ thống này được sử dụng tương đối rộng rãi trên thế giới và trong các hoạt động quốc tế, làm cơ sở để xây dựng “Danh Mục các khu BTTN của Liên Hiệp Quốc năm 1993”. Do còn nhiều thiếu sót nên năm 1984 IUCN đã tiến hành những bước đầu tiên xem xét lại và đề xuất cập nhật.
Hệ thống phân hạng khu BTTN của IUCN hiện hành được công bố năm 1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng 1978. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ thống phân hạng 1994 có 6 phân hạng. Năm phân hạng đầu tiên chủ yếu dựa trên các phân hạng (I-V) của hệ thống phân hạng 1978. Phân hạng VI tổng hợp các phân hạng VI, VII và VIII của hệ thống phân hạng 1978.
Hệ thống phân hạng khu BTTN 1994 của IUCN[15] • Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/Khu bảo vệ hoang dã (Strict Nature Reserve/ Wildeness Area): • Khu dự trữ thiên nhiên (Strict Nature Reserve) • Khu bảo vệ hoang d. (Wildeness Area) • Vườn Quốc Gia (National Park) • Khu bảo tồn thắng cảnh tự nhiên (National Monument/Natural Landmark) • Khu bảo tồn loài/Sinh cảnh (Habitat/Species Management Area) • Khu bảo tồn cảnh quan đất liền/biển (Protected Landscape/Seascape) • Khu bảo tồn kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (Managed Resource Protected Area) Việc sắp xếp một KBTTN vào một phân hạng nhất định cần căn cứ vào mục tiêu quản lý chủ đạo của KBTTN đó. Hệ thống phân hạng KBTTN của IUCN không có ý định đặt ra những tiêu chuẩn hoặc làm hình mẫu chính xác để áp dụng ở cấp quốc gia. Các KBTTN được thành lập trước tiên để đáp ứng các yêu cầu của địa phương và quốc gia, sau đó được “đặt tên” và gắn với các phân hạng của IUCN căn cứ vào mục tiêu quản lý.
Mới đây, IUCN đã tiến hành nghiên cứu đánh giá việc áp dụng phân hạng IUCN về các khu BTTN trên thế giới thông qua dự án “Nói cùng một ngôn ngữ”. Hệ thống phân hạng năm 1978 của IUCN bao gồm Khu dự trữ sinh quyển và Khu di sản thiên nhiên thế giới (Phân hạng IX và X). Tuy nhiên, cũng như các khu RAMSAR và Công viên ASEAN, đây không phải là những phân hạng khu BTTN mà là những danh hiệu khu vực và quốc tế. Vì vậy hệ thống phân hạng 1994 của IUCN không bao gồm những khu này.
Tuy nhiên những khu này được ghi nhận trong Danh sách của Liên hợp quốc và các ấn phẩm phù hợp khác của IUCN. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Hệ thống phân hạng KBTTN của Việt Nam Theo Điều 16 mục 1 chương III của Luật đa dạng sinh học Việt Nam thì KBT gồm có[1]: a) Vườn quốc gia; b) Khu dự trữ thiên nhiên; c) Khu bảo tồn loài - sinh cảnh; d) Khu bảo vệ cảnh quan. Căn cứ vào mức độ đa dạng sinh học, giá trị đa dạng sinh học, quy mô diện tích, khu bảo tồn được phân thành cấp quốc gia và cấp tỉnh để có chính sách quản lý, đầu tư phù hợp.1: Tiêu chí xếp hạng KBTTN của Việt Nam[1] Phân hạng Tiêu chí đánh giá KBTTN Cấp quốc gia Cấp tỉnh Vườn quốc 1. Có hệ sinh thái tự nhiên quan tro ̣ng đối gia với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên; 2.
Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; 3. Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; 4. Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái. Khu dự trữ 1.
Có hệ sinh thái tự nhiên quan tro ̣ng đối Là khu thuộc quy hoạch bảo thiên nhiên với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện tồn đa dạng sinh học của tỉnh, cho một vùng sinh thái tự nhiên; thành phố trực thuộc trung 2. Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục ương nhằ m mu ̣c đić h bảo tồ n hoặc du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. các hệ sinh thái tự nhiên trên điạ bàn. Khu bảo tồn 1.
Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên Là khu thuộc quy hoạch bảo loài - sinh hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc tồn đa dạng sinh học của tỉnh, cảnh Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu thành phố trực thuộc trung tiên bảo vệ; ương nhằ m mu ̣c đić h bảo tồ n 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục. các loài hoang dã trên địa bàn. Khu bảo vệ 1.
Có hệ sinh thái đặc thù; Là khu thuộc quy hoạch bảo cảnh quan 2. Có cảnh quan môi trường, nét đẹp đô ̣c đáo tồn đa dạng sinh học của tỉnh, của tự nhiên; thành phố trực thuộc trung 3. Có giá trị về khoa học, giáo dục, du lịch ương nhằ m mu ̣c đích bảo vệ sinh thái, nghỉ dưỡng. cảnh quan trên địa bàn.
* Hệ thống KBTTN ở Việt Nam Việt Nam hiện nay có 31 VQG, 57 KDTTN, 14 KBT loài và sinh cảnh, 45 Khu rừng văn hóa lịch sử môi trường đã được thành lập. Hiện tại Việt Nam có 5 khu bảo tồn biển được thành lập. Đến năm 2015 sẽ có tổng số 16 KBT biển được thành lập theo quyết định số 742/QĐ- TTg ngày 26/5/2010 của Chính phủ.2 Sinh kế và sinh kế bền vững a) Khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững và các phương thức sinh kế * Sinh kế “Sinh kế” tiếng Anh là livelihood, xuất hiện khoảng thập niên 80 của thế kỷ 20. Khái niệm về sinh kế cũng rất đa dạng, được hiểu theo nhiều cách tiếp cận.
Sách giáo trình nhân loại học của tác giả Tôn Thu Vân (Trung Quốc) quan niệm Nói đến sinh kế là nói đến nguyên lý sau: Một xã hội muốn sinh tồn phải thỏa mãn một loạt nhu cầu của các thành viên, trong đó quan trọng nhất là phải phát triển một bộ phương pháp có thể mưu cầu ăn, mặc và ở trong môi trường sinh tồn. Các nhà nhân loại học nghiên cứu sinh kế trong văn hóa, xã hội truyền thống, coi sinh kế là một bộ phận của quá trình xã hội, tức là không coi biến động của nhân tố kinh tế là một đơn vị cô lập, mà là hiện tượng văn hóa[24]. Sinh kế trong tiếng Việt là từ Hán Việt, trong đó “sinh” là sinh sống, “kế” là cách thức, phương pháp, phương cách. Sinh kế là phương pháp (cách thức) kiếm sống, phương cách mưu sinh của con người.
Sinh kế là khái niệm phổ biến trong dân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tộc học/nhân học, được sử dụng để nghiên cứu phương cách kiếm sống, những hoạt động cần thiết để có được và đáp ứng những nhu cầu vật chất của con người như ăn, mặc, ở và sinh hoạt. Sinh kế là một thành tố quan trọng trong đời sống văn hóa tộc người, có tác động mật thiết và có sự ảnh hưởng quan trọng đối với đời sống văn hóa, xã hội, chính trị. Sinh kế không chỉ nghiên cứu các cách thức kiếm sống của con người mà quan trọng hơn là nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động kiếm sống với văn hóa của nhóm tộc người, nên sinh kế cũng là nhân học văn hóa. Robert Chambers (1983) cho rằng “sinh kế” hiểu như là khái niệm công cụ của giảm nghèo gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận và các hoạt động cần thiết để kiếm sống.
Theo định nghĩa trong khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFIT) năm 1999 thì “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất, xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống”. Như vậy, theo DFIT một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. Đây là khái niệm đang được sử dụng rộng rãi hiện nay, cũng là khái niệm tác giả sử dụng trong nghiên cứu đề tài này. * Sinh kế bền vững SKBV hay sinh kế trở nên bền vững khi nào khi khái niệm sinh kế đang ngày càng trở nên quan trọng để vận dụng và phát triển.