đặt vấn đề QLRBV trong hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001. Hiện nay, trên thế giới đã có bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia như: Canada, Thuỵ điển, Malaysia, Indonesia, vv. và cấp quốc tế như tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal. Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ nhiệt đới đã có bộ tiêu chuẩn "Những tiêu chí và chỉ báo quản lý rừng (P&C)" đã được công nhận và được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều dùng bộ tiêu chí này để đánh giá tình trạng quản lý rừng và xét cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho các chủ rừng.
Tháng 8/1998, các nước trong khu vực Đông Nam Á đã họp hội nghị lần thứ 18 tại Hà Nội để thoả thuận về đề nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số về QLRBV ở vùng ASEAN (viết tắt là C&I ASEAN). Thực chất C&I của ASEAN cũng giống như C&I của ITTO, bao gồm 7 tiêu chí và cũng chia làm 2 cấp quản lý là cấp quốc gia và cấp đơn vị quản lý [9]. Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi sản xuất nông lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn, miền núi, thì quản lý rừng theo hình thức phát triển lâm nghiệp xã hội đang là một trong những mô hình được đánh giá cao trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. 13 Với mục đích phát triển bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc quản lý bền vững các khu bảo vệ.
Nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra để áp dụng quản lý rừng bền vững. Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và Mgahinga Gorilla thuộc Uganda, Wild và Mutebi đã nghiên cứu giả pháp quản lý, khai thác bền vững một số lâm sản và quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giữa ban quản lý vườn và cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, nhân loại đứng trước thảm hoạ suy thoái môi trường trên toàn cầu nên đã đề ra nhiều giải pháp bảo vệ và phục hồi môi trường, trong đó có phong trào quản lý và phát triển rừng bền vững. QLRBV là sáng kiến của cộng đồng quốc tế do những người chế biến, tiêu thụ gỗ cam kết chỉ sử dụng và lưu thông trên mọi thị trường thế giới những sản phẩm gỗ nào được khai thác hợp pháp từ các khu rừng đã được quản lý bền vững.
Muốn vậy, chứng chỉ rừng và chứng chỉ gỗ được áp dụng như là một công cụ hữu hiệu để buộc mọi chủ rừng đảm bảo quản lý rừng bền vững về cả 3 phạm trù: kinh tế, môi trường, xã hội. Tính đến đầu năm 2016, toàn thế giới đã có 449,9 ha rừng đạt tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững và được cấp chứng chỉ bởi mọi hệ thống. Chủ yếu là hệ thống Chứng chỉ FSC và PEFC. Trong đó riêng chứng chỉ FSC đã cấp cho 83 nước với 1,292 triệu chứng chỉ FM/CoC và 28.964 chứng chỉ CoC.
Nước đứng đầu về diện tích rừng được cấp chứng chỉ Quản lý rừng bền vững là Canada với 23 triệu ha và đứng thứ hai là Nga với diện tích được cấp chứng chỉ là 21 triệu ha. Các quy trình Chứng chỉ rừng gồm quy trình Quốc tế như: FSC, PEFC, SFI.và các quy trình Quốc gia như: MTCC (của Malaysia), LEI (của Indonesia). Vùng châu Á – Thái Bình Dương có 12.519 ha được cấp chứng chỉ; chiếm 6.75% diện tích chứng chỉ toàn cầu với 18 nước tham gia. Trong đó đứng đầu là Trung Quốc với 3.857 ha và thứ hai là Thổ Nhĩ Kỳ (phần lãnh thổ châu Á) với 2.
Về chứng chỉ CoC: Có 28.640 chứng chỉ cho toàn cầu, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã được cấp 8.004 chứng chỉ chiếm 28% số chứng chỉ toàn cầu 14 với số nước tham gia là 34 nước. Đứng đầu là Trung Quốc với 3.527 chứng chỉ và thứ hai là Nhật Bản với 1. Tình hình quản lý bền vững tài nguyên rừng ở Việt Nam 1. Tình hình quản lý rừng bền vững Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tính đến ngày 31/12/2016, cả nước có 14.
Trong đó: diện tích rừng tự nhiên là 10.141 ha; rừng trồng: 4. Diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước là 13.934 ha – độ che phủ tương ứng là 41,19%. Như vậy, so với năm 2015, diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước đã tăng hơn 110. Mặc dù diện tích rừng được ghi nhận có tăng lên nhưng chất lượng rừng lại là vấn đề cần được bàn tới.
Năm 1945, diện tích rừng cả nước được ghi nhận là 14,3 triệu ha, thì đến năm 1995, do rừng tự nhiên bị lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác quá mức, nên diện tích chỉ còn 8,25 triệu ha. Tính riêng trong thời gian 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên của cả nước giảm 2,8 triệu ha. Hiện tượng mất rừng vẫn tiếp diễn phức tạp tại nhiều nơi, từ vùng Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ. Thống kê từ năm 1996 đến tháng 12/2016, tổng diện tích rừng bị mất là 399.118 ha, bình quân 57.
Trong đó, diện tích được Nhà nước cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất có rừng là 168.634ha; khai thác trắng rừng (chủ yếu là rừng trồng) theo kế hoạch hàng năm được duyệt là 135.175ha; rừng bị chặt phá trái phép là 68.662ha; thiệt hại do cháy rừng 25.393ha; thiệt hại do sinh vật hại rừng gây thiệt hại 828ha. Như vậy, diện tích mất chủ yếu do được phép chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế hoạch chiếm 76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao làm mất 94.055ha rừng, chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất, bình quân thiệt hại 13. Việt Nam tham gia quá trình QLRBV từ năm 1998 tới nay, tuy diện tích rừng được cấp chứng chỉ FM và chứng chỉ Chuỗi hành trình sản phẩm chưa nhiều; nhưng được sự hưởng ứng của các từ Chính phủ, Bộ NN & PTNT và các Bộ chuyên 15 ngành, các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương, sự hăng hái tự nguyện của các chủ rừng, tiến trình Quản lý rừng bền vững đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, đặc biệt là tại các vùng trồng và khai thác gỗ nguyên liệu, chế biến gỗ xuất khẩu. Song, nhiều trở ngại đặc thù của Việt Nam cũng xuất hiện, đó là quá trình chuyển đổi các chủ rừng quản lý theo cơ chế bao cấp nhà nước như một đơn vị sự nghiệp công ích lâm nghiệp sang hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật.
Trước đây, đơn vị quản lý rừng đều thuộc Nhà nước, gọi là lâm trường quốc doanh (LTQD) và được thành lập theo kết cấu tổ chức hành chính với đa chức năng tại các vùng miền núi, dân tộc ít người, dân trí thấp, hạ tầng chưa mở mang. Ngoài việc quản lý rừng, khai thác gỗ còn được cấp kinh phí để giữ gìn an ninh, vận động nhân dân thực hiện mọi chính sách xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, khuyến nông, khuyến lâm, xây dựng làng bản và cơ sở hạ tầng. Các chính sách tổ chức kinh doanh quản lý đều do Nhà nước chỉ đạo, cho phép, mà chính sách lại thay đổi quá nhiều, quá nhanh; từ một doanh nghiệp lâm nghiệp được kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp trước 1980 chuyển sang chỉ được trồng rừng, bảo vệ rừng, bán cây đứng cho các doanh nghiệp khai thác vận chuyển và tách hoạt động chế biến xuất khẩu riêng ra thành công ty riêng, các kế hoạch trồng rừng, khai thác gỗ đều do Nhà nước cấp chỉ tiêu, rất nhiều khi lâm trường không được tự làm mà bắt buộc phải thuê khoán cho dân hoặc các doanh nghiệp khác tới làm. Từ đó lợi ích và động lực để chủ rừng quản lý rừng bền vững nhằm xin cấp chứng chỉ bị loại trừ.
Giai đoạn này, nhiều lâm trường và cơ quan quản lý cấp tỉnh xây dựng lại cơ chế chính sách, giao quyền tự chủ kế hoạch, tự chủ tài chính cho lâm trường và quyết tâm đổi mới lâm trường thành doanh nghiệp lâm nghiệp sản xuất lâm sản. Tháng 2 năm 1998 Tổ công tác quốc gia (National Working Group - NWG) về Quản lý rừng bền vững thuộc Cục Lâm nghiệp ra đời và hoạt động, đến năm 2000 được chuyển thành tổ chức NGO thuộc Hội KHKT LN VN theo quy chế thành viên FSC. NWG đã hoạt động theo hướng: - Nâng cao nhận thức cho các cơ quan Nhà nước, chủ rừng và cộng đồng dân cư về Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng. 16 - Dự thảo tiêu chuẩn quốc gia tuân theo các nguyên tắc do FSC hướng dẫn và phê duyệt phù hợp chính sách tập quán quản lý rừng của Việt Nam.
- Hỗ trợ chủ rừng và cộng đồng dân cư thực thi Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng thông qua các mô hình thử nghiệm tại các chủ thể chủ rừng là lâm trường quốc doanh, Công ty lâm nghiệp, hộ gia đình trồng rừng, liên doanh liên kết v. Hiện nay mục tiêu và hiệu quả của Quản lý rừng bền vững và đảm bảo rừng ổn định về diện tích lâm phận, cải thiện tốt nhất và bền vững về sản lượng và năng suất, đây chính là cải thiện khả năng hấp thụ và lưu trữ CO2 trong cây và rừng. Vì vậy cần có sự liên kết giữa hai hoạt động có một số mục tiêu, hiệu quả giao nhau để tăng tốc độ và sức mạnh. Việt Nam đã đưa Quản lý rừng bền vững – Chứng chỉ rừng thành chương trình trọng điểm của Chiến lược phát triển lâm nghiệp và thực thi 2 năm đầu.
Tháng 5 năm 2006, Viện nghiên cứu Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ (SFMI) được thành lập theo quyết định ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Trung ương Hội khoa học và kỹ thuật Lâm nghiệp (Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam) trên cơ sở Tổ công tác Quốc gia và hoạt động theo điều lệ và Đăng ký hoạt động Khoa học và Công nghệ được Bộ KH và Công nghệ phê duyệt. SFMI là một tổ chức phi chính phủ (NGO) phi lợi nhuận đầu tiên ở Việt Nam có hoạt động nghiên cứu Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng (100% nhân viên không hưởng lương từ ngân sách của Chính phủ, chỉ hưởng thù lao từ các dự án, công trình được thực hiện bởi SFMI).