ĐẶT VẤN ĐỀ Chí linh là thị xã có diện tích rừng lớn nhất nằm trong tỉnh Hải Dƣơng. Tại đây có nhiều loại cây có giá trị lớn cả về bảo tồn và kinh tế nhƣ lát hoa, lim, sến, táu, giổi, thông,… trong đó có 2 loài cây chiếm ƣu thế với diện tích khá lớn đó là keo tai tƣợng (Acacia mangium Wild) và dẻ gai Yên Thế (Castanopsis boisii Hickel & A. Hai loài cây này chiếm ƣu thế do chúng mang lại nguồn thu nhập tốt cho ngƣời dân khu vực nhờ gỗ cây keo và hạt dẻ thơm ngon, đồng thời chúng lại có khả năng thích nghi tốt với điều kiện sống tại nơi này, chúng đƣợc trồng nhiều và có thể tự tái sinh chồi mạnh mẽ. Rõ ràng, 2 loài cây này đã và đang mang lại những nguồn lợi to lớn cho vùng nhƣ: hiệu quả kinh tế cao, giúp phủ xanh đồi trọc, nâng cao chất lƣợng môi trƣờng, duy trì sinh thái môi trƣờng, làm đẹp mỹ quan,.
nên việc quản lý bảo vệ rừng trồng 2 loài cây này là rất quan trọng đối với cả khu vực. Công tác quản lý bảo vệ nói trên thì bao gồm rất nhiều việc cần làm và trong số đó thì việc quản lý phòng trừ sâu hại cây là rất quan trọng và phải đƣợc quan tâm thực hiện thƣờng xuyên do sâu hại là một trong những yếu tố có thể ảnh hƣởng trực tiếp và mạnh lên cả chất và lƣợng của rừng. Nếu coi thƣờng công tác này thì chỉ cần có điều kiện thích hợp cho dịch bùng phát, cả một diện tích rừng quý giá sẽ bị tàn phá nhanh chóng kéo theo những tổn thất nặng nề cho ngƣời dân nói riêng và cả khu vực nói chung. Trên thực tế, cách đây vài năm dịch Bọ que bùng phát đã làm cho nhiều diện tích rừng Dẻ biến mất, điều đó càng cho thấy sức phá hoại mạnh mẽ của sâu hại lên những cánh rừng thuần loài, chúng có thể làm cho cả rừng cây bị trụi lá trong thời gian ngắn dẫn đến mất đi khả năng phục hồi của cây.
Sâu hại trên 2 loài cây này thì có thể bao gồm nhiều loài, trong đó có những loài gây hại chính thƣờng xuất hiện và gây ra thiệt hại lớn, đồng thời cũng có những loài khác ít gặp hơn, gây hại ít hơn hay chỉ xuất hiện một thời gian ngắn. Là một ngƣời con của quê hƣơng Hải Dƣơng, thông qua luận văn tốt nghiệp này tôi muốn tìm hiểu và góp phần nào đó giúp bảo tồn, duy trì tài 1 nguyên rừng của quê hƣơng đồng thời nâng cao kiến thức, các kỹ năng điều tra đo đạc, áp dụng các kiến thức đã học tại trƣờng Đại Học Lâm Nghiệp vào thực tiễn, qua đó chuẩn bị những kỹ năng cần thiết cho công việc sau này. Do đó tôi tiến hành thực hiện đề tài : ”Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sâu hại một số loài cây tại thị xã Chí Linh-Hải Dƣơng” và lựa chọn 2 loài cây đại diện cho khu vực để điều tra là cây Keo tai tƣợng (Acacia mangium Wild) đƣợc trồng nhiều ở khu vực chùa Côn Sơn và Dẻ gai Yên Thế (Castanopsis boisii Hickel & A. Camus) tại khu vực phƣờng Bến Tắm, do 2 loài cây này đang là nguồn thu nhập đáng kể cho ngƣời dân nơi đây nên việc phòng trừ, quản lý sâu hại là rất quan trọng liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân.
Đề tài này có mục đích tổng hợp những loài sâu hại xuất hiện tại hai loại rừng Keo tai tƣợng và Dẻ gai Yên Thế, xác định những loài sâu hại chính, các đặc điểm về hình thái và hình thức gây hại của chúng, qua đó đề xuất những giải pháp quản lý sâu hại trên 2 loại cây nói trên. 2 Chƣơng I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về côn trùng trên thế giới Trên thế giới Ngay từ khi loài ngƣời mới xuất hiện, đặc biệt là từ lúc con ngƣời bắt đầu biết trồng trọt và chăn nuôi, họ đã va chạm với sự phá hoại nhiều mặt của côn trùng, do đó con ngƣời phải bắt tay vào tìm hiểu và nghiên cứu về côn trùng. Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về côn trùng.
Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú. Trong một cuốn sách cổ của Xêri viết vào năm 3000 TCN đã nói tới những cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại khủng khiếp của những đàn châu chấu sa mạc. Trong các tác phẩm nghiên cứu của ông nhà triết học cổ Hy Lạp aristoteles (384 - 322 TCN) đã hệ thống hoá đợc hơn 60 loài côn trùng. Ông đã gọi tất cả những loài côn trùng ấy là những loài chân có đốt.
Về phân loại côn trùng phải kể đền nhà tự nhiên học vĩ đại ngƣời Thụy Điển Carl Von Linne, ông đƣợc coi là ngƣời đầu tiên đƣa ra đơn vị phân loại. Ông đã xây dựng hệ thống phan loại về động thực vật trong đó có côn trùng. Tuy nhiên mãi đến thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX các nghiên cứu về côn trùng mới đƣợc quan tâm và phát triển. Năm 1904 có Krepton, năm 1982 có Weber tiếp tục cho ra bảng phân loại về bộ, họ của côn trùng.
Các công trình nghiên cứu này đƣa ra nhiều hệ thông phân loại khác nhau tùy theo tác giả. Đến nửa thế kỷ XX có các nghiên cứu của Manfred – Koch (1955).Metander (1965), Donaldi – Borror và Richard E.White (1970 – 1978) cũng đề cập đến phân loại và nhận biết côn trùng. Watson, More (1975) trong “Sổ tay chỉ dẫn về thực tiễn quản lý sâu hại tổng hợp” đã đƣa ra hƣớng dẫn sử dụng kỹ thuật sẵn có để hạn chế thiệt hại về mặt kinh tế cho hệ sinh thái nông nghiệp. Ravlin, Haynes 1987 đã sử dụng phƣơng pháp mô phỏng trong quản lý côn trùng ký sinh phục vụ phòng trừ sâu hại họ Ngài khô lá.
Mô hình mà họ sử dụng là sự phối hợp giữa số liệu 3 điều tra ngoài thực địa về mật độ sâu hại, xu hƣớng phát triển của quần thể, mức độ ký sinh và nhiệt độ. Đây là phƣớng pháp sử dụng thiên địch để diệt trừ sâu hại nên không có ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng đơn độc 1 phƣơng pháp này thì biện pháp quản lý chƣa mang tình tổng hợp. Các nghiên cứu đáng chú ý về côn trùng trong khu vực là các công trình nghiên cứu của Trung Quốc.
Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm đã công bố công trình phân loại côn trùng rừng Vân Nam. Tài liệu tham khảo quan trọng để phân loại các loài bƣớm ngày là sách của Cố Mậu Bình, Trần Phƣợng Trân. Các nghiên cứu cơ bản về hình thái, tập tính các loài sâu hại lâm nghiệp có thể tìm thấy trong tài liệu “Côn trùng rừng Trung Quốc” (Xiao Gangrou), 1991, Nghiên cứu về côn trùng thiên địch có thể tìm thấy trong “Sổ tay côn trùng thiên địch”, “Tạp chí bọ rùa Vân Nam” (Tào Thành Nhất). Năm 1989 Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Bary Drummond và Swain đã có những chuyên đề và công trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng.
Thông qua các chƣơng trình, từng bƣớc hoàn thiện IPM giải quyết những vấn đề tồn tại và đƣa ra những quyết định phù hợp với quản lý sâu hại lâm nghiệp và có thể thích hợp cho cả công nghiệp. Nghiên cứu côn trùng tại Việt Nam Nói chung nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp trƣớc Cách Mạng Tháng 8 còn rất ít. Từ năm 1954 sau khi hoà bình đƣợc lập lại, xuất phát từ nhu cầu sản xuất nông lâm nghiệp việc điều tra cơ bản về côn trùng mới đƣợc chú ý. Năm 1961 và 1965, năm 1967 và 1968 Bộ nông nghiệp đã tổ chức các đợt điều tra cơ bản xác định đƣợc 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ và 20 bộ khác nhau.
Năm 1968 và sau này Medvedev đã công bố một công trình về Họ Bọ lá Chrysomelidae ở Việt Nam trong đó có 8 loài mới đối với khoa học. Trong cuốn “Sâu hại rừng và cách phòng trừ” của tác giả Đặng Vũ Cẩn (1973) có giới thiệu một số loại sâu họ Bọ hung hại lá bạch đàn, bên cạnh đó tác giả còn cho biết thêm một số loài sâu khác nhƣ Bọ vừng, Bọ sừng, Bọ cánh cam. 4 Năm 1979 Nguyễn Trung Tín đã có công trình tƣơng đối hoàn thiện nghiên cứu về loài Ong cắn lá mỡ và từ công trình này Bộ Lâm nghiệp đã ban hành quy trình phòng trừ ong ăn lá mỡ phục vụ thiết thực cho nhu cầu sản xuất gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy sợi và công nghiệp chế biến gỗ. Từ năm 1987, cơ quan kiểm lâm vùng 1 (Quảng Ninh), cơ quan kiểm lâm vùng 2 (Thanh Hóa) đã tiến hành nghiên cứu các loài sâu hại, phát hiện một số loài côn trùng ký sinh, côn trùng ăn thịt của Sâu róm thông nhƣ các loài Bọ ngựa, các loài bọ xít, Kiến, các loài Ruồi, Ong ký sinh,… Nghiên cứu sản xuất một số chế phẩm sinh học nhƣ nấm Bạch cƣơng, Lục cƣơng (Beauveria bassiana và Metazhizium) phục vụ cho việc phòng trừ sâu róm thông từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Ninh.
Trần Công Loanh (1989) trong cuốn “Côn trùng Lâm nghiệp” đã viết rất kỹ về đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học, sinh thái học và phân loại côn trùng Lâm nghiệp, đồng thời nêu ra một số phƣơng pháp dự tính, dự báo sâu hại và các biện pháp phòng trừ chúng bằng thuốc hóa học. Tuy vậy chƣa đề cập đến nguyên lý phòng trừ tổng hợp. Năm 1990 với báo cáo kết quả: “Nghiên cứu biện pháp dự tính, dự báo và phòng trừ Sâu róm thông Dendrolimus punctarus Walker ở miền Bắc Việt Nam” Lê Nam Hùng đã có một bƣớc cụ thể hóa nguyên lý phòng trừ tổng hợp loài sâu hại này. Tuy nhiên, các phƣơng pháp dự tính, dựa báo đƣợc đề cập trong nghiên cứu chƣa chú ý tới đặc điểm dịch của nó, mặt khác phạm vi ứng dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp ở công trình này đang ở phạm vi hẹp của miền Bắc Việt Nam.
Các tác giả Nguyến Thế Nhã – Trần Công Loanh – Trần Văn Mão (2001) đã xuất bản giáo trình “Điều tra dự tính, dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp”. Các tác giả nhấn mạnh điều tra và dự tính, dự báo sâu bệnh hại rừng là công việc có liên quan chặt chẽ với nhau. Điều tra là cơ sở của dự tính dự báo, điều tra sâu hại tiến hành càng kịp thời, chính xác thì kết quả dự báo càng đảm bảo độ tin cậy. Dự tính dự báo là cơ sở của việc phòng trừ sâu hại và quản lý hữu hiệu nguồn tài nguyên côn trùng và vi sinh vật có ích.