Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG KÊNH MƯƠNG THUỶ LỢI 1. Lý luận về quản lý hệ thống kênh mương 1. Các khái niệm * Kênh mương: Kênh mương được xây dựng bằng vật liệu đất, đá, xi măng (bao gồm cả phần đào và đắp kênh), được bọc hoặc không bọc bằng lớp áo gia cố đáy kênh, gia cố mái kênh (mái trong và mái ngoài) dùng để dẫn nước (tưới, tiêu, cấp nước) trong công trình thủy lợi. Kênh mương trong hệ thống thủy lợi là công trình làm bằng đất, đá, gạch, bê tông hặc một số vật liệu khác dùng để dẫn nước tưới, tiêu để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Công trình trên kênh mương: Là các công trình xây dựng trong phạm vi kênh (bờ kênh, lòng kênh hoặc dưới kênh) để lấy nước, chuyển nước, tiêu nước qua kênh hoặc phục vụ các yêu cầu khác của dân sinh v.
Các công trình này gồm: Đập, Cống, Bờ ngăn. * Hệ thống kênh mương thuỷ lợi: Là một hệ thống tưới tiêu bao gồm nhiều cấp kênh mương to nhỏ khác nhau và các công trình trên kênh mương làm thành một mạng lưới dẫn và tiêu nước từ đầu mối đến từng cánh đồng và ngược lại được tưới hoặc tiêu nước. * Hệ thống kênh mương thường bao gồm: Hồ, trạm bơm, cống, đập, hệ thống mương tưới, tiêu. Trong đó hệ thống kênh là quan trọng nhất.
Tùy thuộc đặc điểm, điều kiện và nhiệm vụ tưới, tiêu mà mỗi hệ thống kênh được phân cấp thành hệ thống kênh mương cấp 1, 2, 3, 4 và 5 Kênh cấp 1: Thường gọi là kênh chính lấy nước từ công trình đầu mối, phân phối cho toàn bộ hệ thống dẫn nước trong khu tưới và tiêu nước trong khu tiêu. Kênh cấp 2: Thường gọi là kênh nhánh, lấy nước từ kênh chính để phục vụ đất đai của một huyện hoặc liên huyện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 Kênh cấp 3: Thường gọi là mương cái, lấy nước từ kênh nhánh phục vụ tưới cho diện tích đất đai một xã hoặc liên xã. Kênh cấp 4: Thường gọi là mương nhánh lấy nước từ mương cái đi tưới nước đất đai của 1 HTX.
Kênh cấp 5: Thường được gọi là mương chân rết hoặc là mương phân phối nước cho từng cánh đồng. * Quản lý: Là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển.
Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau.W Taylor (1856-1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Fayol (1886-1925) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận - hiện đại tới nay, quan niệm rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.P Follet (1868-1933) tiếp cận quản lý dưới góc độ quan hệ con người, khi nhấn mạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý đã cho rằng: Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác. Barnarrd (1866-1961) tiếp cận quản lý từ góc độ của lý thuyết hệ thống, là đại biểu xuất sắc của lý thuyết quản lý tổ chức cho rằng: Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn để duy trì và phát triển tổ chức. Điều quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức đó là sự sẵn sàng hợp tác, sự thừa nhận mục tiêu chung và khả năng thông tin.
Simon (1916) cho rằng ra quyết định là cốt lõi của quản lý. Mọi công việc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 8 của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thể quản lý. Ra quyết định quản lý là chức năng cơ bản của mọi cấp trong tổ chức. Từ các quan điểm của các nhà quản lý nêu trên chúng tôi cho rằng Quản lý là tác động có ý thức bằng quyền lực, theo qui trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu các tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi.
* Quản lý nhà nước: Là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan đại diện cho Nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. * Quản lý hệ thống kênh mương: Thường là quản lý Nhà nước hệ thống kênh mương do Nhà nước đầu tư xây dựng nhằm bảo đảm tưới, tiêu nước kịp thời, hiệu quả cho các ngành sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Mục tiêu của quản lý hệ thống kênh mương sẽ kéo dài thời gian sử dụng công trình, nâng cao hiệu ích dùng nước và hiệu quả sử dụng công trình. Thông qua công tác quản lý hệ thống kênh mương để kiểm tra và đánh giá mức độ chính xác của các khâu quy hoạch, thiết kế, thi công.
Vì vậy không ngừng cải tiến quản lý hệ thống kênh mương làm cho công tác này ngày càng tốt hơn là trách nhiệm rất lớn của những người làm công tác quản lý trong ngành. Vai trò quản lý hệ thống kênh mương thuỷ lợi trong sản xuất nông nghiệp Trong những năm cuối thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, loài người trên trái đất cần quan tâm và giải quyết 5 vấn đề to lớn mang tính toàn cầu đó là: - Hòa bình khu vực và toàn thế giới. - An toàn lương thực thực phẩm. - Dân số và kế hoạch hóa gia đình.
- Ô nhiễm môi trường. - Năng lượng, nhiên liệu. Trong khuôn khổ của nền kinh tế quốc dân, thủy lợi là một ngành có đóng góp đáng kể để giải quyết vấn đề lương thực phẩm. Nghị quyết đại hội Đảng đã chỉ ra rằng nông nghiệp phải là mặt trận ưu tiên hàng đầu phát triển, bên cạnh các biện pháp thâm canh tăng năng suất cây trồng như cơ giới hóa nông nghiệp, phân bón, bảo vệ thực vật,.
thì thủy lợi phải là biện pháp hàng đầu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 9 Khi công tác thủy lợi đã thực sự phát triển cả về chiều rộng lẫn cả về chiều sâu, mức độ sử dụng nguồn nước cao (tỷ trọng giữa nguồn nước tiêu dùng và lượng nước nguồn do thiên nhiên cung cấp) thì không những từng quốc gia mà tiến hành liên quốc gia để giải quyết vấn đề lợi dụng tổng hợp nguồn nước phục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản. Ngoài ra thủy lợi còn đóng góp to lớn trong việc cải tạo và bảo vệ môi trường nước bị ô nhiễm. Xuất phát từ vai trò của ngành thủy lợi trong hệ thống kinh tế quốc dân.
Quản lý hệ thống kênh mương có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế quốc dân. Cụ thể: Đối với sản xuất nông nghiệp: Quản lý tốt hệ thống kênh mương nhằm cung cấp nước đầy đủ và kịp thời cho sản xuất nông nghiệp; Tiêu nước nhanh tránh gây thiệt hại cho cây trồng vật nuôi. Đối với ngành kinh tế khác: Quản lý hệ thống kênh mương giúp cho việc cung cấp nguồn nước sạch cho dân sinh, các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng dẫn và xử lý nước thải hàng ngày. Ngành thủy lợi là ngành Nhà nước đầu tư kinh phí lớn chiếm 10-12% vốn đầu tư XDCB (Nguồn:Từ Tổng cục thủy lợi báo cáo năm 2012) của các ngành kinh tế.
Quản lý tốt hệ thống kênh mương góp phần sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư XDCB của Nhà nước, góp phần thực hiện tốt đường lối phát triển kinh tế Xã hội của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Là một nước Nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, mưa lớn, bão, kèm theo lũ lụt thường xảy ra, quản lý tốt hệ thống kênh mương còn có vai trò phòng chống lũ lụt, bảo vệ đê điều, tránh thiệt hại về nguồn vốn, tài sản đảm bảo an sinh xã hội, môi trường. Tóm lại: Quản lý tốt hệ thống kênh mương góp phần thực hiện tốt 3 mục tiêu trong phát triển kinh tế theo hướng bền vững phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường. Phân loại quản lý hệ thống kênh mương thuỷ lợi Có nhiều cách phân loại trong nghiên cứu này tôi sử dụng các cách phân loại chủ yếu sau: a) Theo cấp quản lý Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 10 Dựa trên cấp quản lý hệ thống kênh mương, quản lý hệ thống kênh mương được chia thành quản lý nhà nước và quản lý của cộng đồng: Quản lý Nhà nước hệ thống kênh mương: Cấp quản lý này thường do các Công ty khai thác công trình thủy lợi thuộc sở hữu nhà nước thực hiện, trực thuộc các Sở Nông nghiệp và PTNT.
Các cơ quan này thường quản lý các hệ thống kênh mương lớn do nhà nước quản lý kênh mương cấp 1,2,3 bao gồm các hệ thống tưới, tiêu… Các hệ thống kênh mương này có phạm vi phục vụ lớn liên huyện, tỉnh và có sự tham gia của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Quản lý của cộng đồng hệ thống kênh mương: Cấp quản lý này thường thông qua các HTX dịch vụ, hoặc cộng đồng người dân tham gia quản lý…Thông thường các cấp quản lý này quản lý các hệ thống kênh mương có quy mô nhỏ, thuộc địa bàn của địa phương phục vụ tưới, tiêu trực tiếp cho cộng đồng… b)Theo mục đích sử dụng kênh mương thuỷ lợi Theo mục đích sử dụng của hệ thống kênh mương. Quản lý hệ thống kênh mương theo mục đích sử dụng được hiệu quả. Quản lý hệ thống kênh mương tưới, quản lý hệ thống kênh mương tiêu.
Quản lý hệ thống kênh mương tưới: Mục đích của hình thức quản lý này là khai thác đủ nguồn nước, cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh.