CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN HỒ CHỨA VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP AN TOÀN 1.1 Thực trạng an toàn hồ chứa nước ở Việt Nam 1.1 Thực trạng về an toàn hồ chứa Nước Hiện nay, cả nước có 6.648 hồ chứa thuỷ lợi với tổng dung tích trữ khoảng 11 tỷ m3, trong đó 560 hồ chứa lớn có dung tích trữ trên 3 triệu m3, 1752 có dung tích trữ từ 0,2 đến 3 triệu m3, còn lại là 4336 hồ có dung tích nhỏ hơn 0,2 triệu m3. Các địa phương đã xây dựng nhiều hồ chứa là Nghệ An, Thanh Hoá, Đăk Lăk, Hoà Bình, Tuyên Quang, Bắc Giang, Bình Định, Phú Thọ… Bên cạnh mặt ưu điểm và lợi ích, hồ chứa nước luôn tiềm ẩn nguy cơ sự cố, có khi dẫn tới thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước trên thế giới. Nước ta cũng đã có một số hồ quy mô vừa (4÷5 triệu m3) và nhỏ bị vỡ, gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản. Để phát huy mặt lợi và chủ động đề phòng các diễn biến bất lợi, công tác quản lý các hồ chứa phải được quan tâm đúng mức từ giai đoạn quy hoạch, thiết kế, thi công và quản lý khai thác.
Ở nước ta, những năm gần đây thiên tai, lũ lụt diễn biến hết sức thất thường. Nhiều hồ chứa đã bộc lộ các hư hỏng, tồn tại, mặc dù đã được Nhà nước, các bộ ngành ở Trung ương, chính quyền và nhân dân các địa phương quan tâm đầu tư sửa chữa và tổ chức bảo đảm an toàn song do số lượng hồ chứa nhiều, đặc biệt các hồ chứa vừa và nhỏ (loại có dung tích trữ dưới 10 triệu m3) và những hồ chứa được xây dựng từ các năm 70, 80 của thể kỷ trước, kinh phí đầu tư yêu cầu lớn, công tác quản lý bảo vệ hồ cũng còn yếu kém nên vấn đề an toàn hồ chứa vẫn đang là nỗi lo của toàn xã hội mỗi khi mùa mưa bão đến. - Về mặt đầu tư xây dựng các hồ chứa: Do thiếu kinh phí xây dựng nên các hạng mục công trình không được đầu tư xây dựng đầy đủ và có độ kiên cố cần thiết. Một số hồ chứa tràn xả lũ không đủ năng lực xả, không được xây dựng một cách chắc chắn.
Một số đập mái thượng lưu không được gia cố. Nhiều hồ chứa không có đường 6 quản lý, gây khó khăn cho công tác quản lý và ứng cứu khi hồ có sự cố. Trường hợp này xảy ra phổ biến ở các hồ loại vừa và nhỏ. - Về mặt khảo sát thiết kế: Việc hạn chế các tài liệu về khí tượng thủy văn, địa hình địa chất cũng như các phương pháp tính toán dẫn đến việc các hồ sơ thiết kế không sát với thực tế, chưa đảm bảo mức độ an toàn đặc biệt là những hồ nhỏ.
Tiêu chuẩn lũ áp dụng cho thiết kế hồ chứa được lựa chọn chủ yếu căn cứ vào quy mô đặc điểm của công trình mà chưa xem xét đến đặc điểm khu vực hạ du đập. - Về mặt thi công: Do thiết bị thi công thiếu, kỹ thuật thi công lạc hậu, ở các hồ nhỏ đập được thi công bằng thủ công dẫn đến chất lượng thi công không bảo đảm. Rất nhiều đập bị thấm do vật liệu không đảm bảo chất lượng; nền đập không được xử lý đảm bảo; kỹ thuật đắp không đạt yêu cầu… - Về quản lý, khai thác: mặc dầu Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, quy định trách nhiệm quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thủy điện nói chung và các hồ đập nói riêng, nhưng nói chung, năng lực về quản lý, theo dõi và vận hành hồ đập tại Việt Nam còn nhiều bất cập. Công tác tổ chức quản lý chưa đầy đủ, kém hiệu quả và chưa được quan tâm đúng mức.
Ở các hồ chứa nước lớn và vừa do các Công ty Khai thác công trình quản lý, công tác này đã được chú ý hơn nhưng so với yêu cầu đặt ra trong các văn bản, quy định thì còn một khoảng cách khá xa. Đối với các hồ vừa và nhỏ, nhiều hồ được giao cho các xã, HTX, nông trường quản lý nhưng không được hỗ trợ đầy đủ cán bộ kỹ thuật và đào tạo về chuyên môn, tình trạng này cũng tương tự đối với các hồ thủy điện do các công ty cổ phần tư nhân quản lý. Vì vậy công tác quản lý chưa đi vào nề nếp, hiệu quả còn thấp. Nguồn nhân lực quản lý đập chưa đáp ứng các yêu cầu về quản lý hồ đập; một số nơi còn thiếu cán bộ thủy lợi.
Công tác đào tạo không được tiến hành thường xuyên, thiếu cán bộ quản lý đập được đào tạo về quản lý an toàn đập. Ở các hồ do HTX và các nông trường hoặc công ty tư nhân quản lý, cán bộ quản lý không có đủ trình độ chuyên môn để quản lý an toàn đập, khi tình huống lũ lụt xảy ra thiếu cán bộ kỹ thuật chuyên ngành để xử lý ngay từ đầu. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vỡ một số đập nhỏ đã xảy ra. 7 Tình hình trên đã cho thấy nếu việc thiết kế, xây dựng và quản lý vận hành đập không tốt, không an toàn để xảy ra các sự cố vỡ đập hoặc xả lũ lớn bất thường thì ngoài thiệt hại cho bản thân công trình, phá hoại hoặc ngưng trệ sản xuất, còn có thể gây ra tổn thất nặng nề về sinh mạng, tài sản ở vùng hạ lưu đập, làm ách tắc giao thông gây thiệt hại to lớn cho kinh tế của đất nước.
- Ảnh hưởng của biến đối khí hậu: Những năm sau này, những thiếu sót, hạn chế trên đã từng bước được khắc phục đối với các hồ được xây mới. Tuy nhiên, tình hình nhìn chung vẫn chưa được cải thiện nhiều. Thêm vào đó, diễn biến thời tiết ngày càng bất lợi, cộng với rừng đầu nguồn của hồ chứa bị tàn phá làm cho lượng lũ tập trung về hồ nhanh và lớn hơn, tăng mức độ nguy hiểm cho công trình. Những tổn thất có thể do các sự cố mất an toàn đập, những vấn đề tồn tại tiềm tàng trong hệ thống các hồ đập đã đề cập ở trên, cộng với những hệ lụy của việc biến đổi khí hậu, mật độ dân cư đông đúc cũng như yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở khu hạ du đập đã nói lên yêu cầu bức thiết của công tác quản lý an toàn đập ở nước ta… 1.2 Tình hình các sự cố hồ chứa ở Việt Nam Các sự cố hồ chứa tại Việt Nam xảy ra với cường độ ngày càng tăng đặc biệt là các hồ chứa vừa và nhỏ.
Các sự cố cũng đa dạng do nhiều yếu tố gây nên đã nêu chi tiết trong phân 1. Sau đây là hình ảnh một số sự cố đập trên cả nước trong một vài năm gần đây.1 Hình ảnh nước sắp tràn qua đỉnh đập Hình 1.2 Hình ảnh sạt trượt mái thượng lưu 9 Hình 1.3 Hình ảnh Hồ Móc Mít ở huyện Mô Đức tỉnh Quảng Ngãi Hình 1.4 Hình ảnh Vụ vỡ đập Ia Krel 10 1.2 Đặc điểm phân loại hồ chứa 1.1 Định nghĩa và phân loại các hồ chứa 1.1 Định nghĩa hồ chứa nước Hồ chứa nước (sau đây gọi tắt là hồ chứa) là công trình có nhiệm vụ tích, trữ nước để điều tiết dòng chảy, cấp nước cho các ngành kinh tế quốc dân, phát điện và cải thiện môi trường. Hồ chứa nước đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Nói đến hồ chứa nước (hồ thủy lợi nói chung) thì Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong việc xây dựng hàng loạt hệ thống hồ phục vụ tưới, cấp nước sinh hoạt, phát điện, giao thông vận tải thủy, du lịch, nuôi trồng thủy sản v.
Trong số đó phải nhắc tới nhiều công trình lớn với những lợi ích tổng hợp như hồ Hòa Bình, Thác Bà, Yaly, Dầu Tiếng, Trị An, Thạch Nham, Sông Hinh, YaJun Hạ, Ea Súp Thượng v.v… Ngoài mục tiêu chủ yếu là cấp nước tưới, phát điện, các hồ chứa này cũng đã tạo nên những rừng cây xanh tốt quanh hồ, là nơi trú ngụ của nhiều loài chim thú, tạo nên một bức tranh phong cảnh đẹp với môi trường khí hậu trong lành đã làm cân bằng lại hệ sinh thái vốn đang bị tác động chưa hợp lý của con người. Như vậy có thể nói hệ thống các hồ chứa đã xây dựng (hồ nhân tạo) ở nước ta có vai trò ý nghĩa hết sức to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, ngoài ra hồ chứa được xây dựng sẽ nâng cao mực thủy cấp, độ ẩm đảm bảo ổn định đã thúc đẩy hệ sinh vật phát triển, thu hút động thực vật đến sinh sống.2 Phân loại hồ chứa * Phân theo nguồn gốc: Thì có hồ tự nhiên và hồ nhân tạo. - Hồ tự nhiên là loại hồ được hình thành và phát triển một cách tự nhiên sau một quá trình vận động lâu dài của vỏ trái đất mà không do bàn tay của con người tạo nên, như hồ Baican (Nga), Biển Hồ (Cam Pu Chia), hồ Ba bể ( Việt Nam), hồ Galilee. - Hồ nhân tạo là do con người tạo nên có nhiệm vụ làm biến đổi và điều tiết nguồn nước phù hợp với yêu cầu dùng nước của các ngành kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và phòng chống giảm nhẹ thiên tai.3 Căn cứ mục đích sử dụng của hồ được phân loại như sau: - Hồ phục vụ thủy lợi: Nhiệm vụ chính của hồ chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.
- Hồ để phát điện: Nhiệm vụ chính của hồ được xây dựng chủ yếu để sử dụng nguồn thủy năng phát điện. - Hồ có nhiệm vụ phòng chống lũ lụt: Nhiệm vụ chủ yếu là giữ nước lũ đảm bảo an toàn cho hạ lưu, và sau đó thì xả dần nước lũ chứa trong hồ. - Hồ phục vụ cấp nước sinh hoạt, công nghiệp: Nhiệm vụ chính chủ yếu của hồ là cấp nước sinh hoạt cho các khu dân cư, các khu công nghiệp, nhà máy. - Hồ phục vụ du lịch, giao thông thủy, thể thao: Nhiệm vụ chính của hồ là tạo cảnh quan du lịch, phục vụ giao thông thủy, sử dụng để phục vụ thể thao như bơi lội, đua thuyền… 1.4 Căn cứ vào dung tích hồ chứa chiều cao của đập chắn nước để phân loại như sau: - Hồ đặc biệt lớn: Là những hồ có dung tích từ 1 tỷ mét khối nước trở lên.
- Hồ lớn: Hồ có dung tích từ 5 triệu ÷ một tỷ mét khối nước, hoặc H đ ≥ 15 m. - Hồ vừa: Hồ có dung tích từ 1 triệu ÷ 5 triệu m3 nước, hoặc Hđ=10-15 m.