Đặt vấn đề Nước ta là một nước đang phát triển với nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế cũng như xã hội. Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, giữ một vị trí hết sứ quan trọng vì nông nghiệp sản xuất ra những sản phẩm nuôi sống con người mà bất kỳ ngành sản xuất khác không thể thay thế được. Từ thực tiễn như vậy Đảng và Nhà nước ta đã lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm cho các thời kỳ phát triển của đất nước. Chính vì vậy việc đầu tư phát triển ngành nông nghiệp là rất cần được quan tâm.
Trong đó, sản xuất rau cũng là lĩnh vực rất cần thiết cho cuộc sống ngày càng phát triển hiện nay. Rau là nguồn thực phẩm thiết yếu trong đời sống hàng ngày của con người. Rau không chỉ cung cấp một lượng lớn vitamin mà còn cung cấp một phần các nguyên tố đa, vi lượng cần thiết trong cấu tạo tế bào. Ngoài ra rau còn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới.
Rau rất đa dạng về chủng loại như: rau ăn quả, rau ăn củ, rau ăn lá… Sản xuất rau ở nước ta hiện cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rau xanh của người dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và từng bước nâng cao giá trị xuất khẩu rau của Việt Nam. Trên thực tế, sản xuất rau trên địa bàn xã Xuân Lôi đang được chính quyền cùng người dân quan tâm đầu tư. Vì vậy, cần tìm ra các giải pháp để phát triển sản xuất và tiêu thụ rau là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Để thấy được thực trạng phát triển của cây rau trên địa bàn xã Xuân Lôi, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất rau tại xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc”.
Mục tiêu nghiên cứu. - Đánh giá điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội tại địa phương có liên quan đến sản xuất rau. - Đánh giá được thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau của xã Xuân Lôi. - Đánh giá hiệu quả kinh tế mà cây rau mang lại.
- Tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong phát triển sản xuất rau. - Đề ra giải pháp để duy trì và phát triển rau. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Đề tài có ý nghĩa quan trọng, giúp sinh viên nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện được kỹ năng của mình và vận dũng các kiến thức đã học vào thực tiễn một cách sáng tạo và khoa học.
- Củng cố cho sinh viên những kiến thức còn thiếu sót cần bổ sung để sau này trở thành một kỹ sư khuyến nông có năng lực chuyên môn tốt đáp ứng nhu cầu công việc. - Đề tài bổ sung tài liệu cho khoa, trường, các cán bộ tập huấn và các cơ quan trong ngành. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy hiệu quả kinh tế mà cây rau mang lại từ đó có những giải pháp, định hướng cụ thể phát triển ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng rau nói riêng của xã ngày càng lớn mạnh. - Qua đề tài giúp người dân hiểu biết thêm về những lợi ích kinh tế và lợi ích khác mà người dân sản xuất mang lại nhằm nhân rộng ra nhiều địa phương.
- Kết quả nghiên cứu đề tài giúp cho địa phương nhìn nhận đánh giá quá trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành nghề từ phương thức sản xuất truyền thống chuyển sang sản xuất hàng hóa. - Những phân tích đánh giá trong đề tài có thể làm cơ sở cho hệ thống khuyến nông cơ sở đi sâu tìm hiểu nhu cầu và mong muốn của người dân nhằm nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm rau Rau là cây hoặc phần có thể ăn được và thường là mọng nước, ngon và bổ được sử dụng như là món ăn chính hoặc đồ phụ gia để nấu hoặc ăn sống.
Rau rất đa dạng và phong phú. Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người trên khắp hành tinh, đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Vai trò của cây rau đã được khẳng định qua câu tục ngữ “cơm không rau như đau không thuốc” [5]. Vị trí, vai trò của rau 2.
Về mặt dinh dưỡng - Rau là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể con người. Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250-300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm. Rau cung cấp cho cơ thể con người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ, vv.Trong rau xanh hàm lượng nước chiếm 85-95%, chỉ có 5-15% là chất khô. Giá trị dinh dưỡng cao nhất ở rau là hàm lượng đường (chủ yếu đường đơn) chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần cacbon.
Nhờ khả năng hoà tan cao, chúng làm tăng sự hấp thu và lưu thông của máu, tăng tính hoạt hoá trong quá trình ôxy hoá năng lượng của các mô tế bào. Một số loại rau như khoai tây, đậu (nhất là đậu ăn hạt như đậu Hà Lan, đậu Tây), nấm, tỏi cung cấp 70 - 312 calo/100g nhờ các chất chứa năng lượng như protit, gluxit. n 4 - Rau là nguồn cung cấp vitamin phong phú và rẻ tiền. Rau có chứa các loại vitamin A (tiền vitamin A), B1, B2, C, E, vv.
Trong khẩu phần ăn của nhân dân ta, rau cung cấp khoảng 95 - 99% nguồn vitamin A, 60-70% nguồn vitamin B (B1, B2, B6, B12) và gần 100% nguồn vitamin C. - Rau là nguồn cung cấp chất khoáng cho cơ thể. Rau chứa các chất khoáng chủ yếu như Ca, P, Fe, là thành phần cấu tạo của xương và máu. Những chất khoáng có tác dụng trung hòa độ chua do dạ dày tiết ra khi tiêu hóa các loại thức ăn như thịt, các loại ngũ cốc.
Hàm lượng Ca rất cao trong các loại rau cần, rau dền, rau muống, nấm hương, mộc nhĩ (100- 357 mg%). - Rau là nguồn cung cấp các dinh dưỡng khác Rau cung cấp cho cơ thể các axit hữu cơ, các hợp chất thơm, các vi lượng, các xellulo (chất xơ) giúp cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ dàng, phòng ngừa các bệnh về tim mạch áp huyết cao. Ngoài ra nhiều loại rau còn chứa các kháng sinh thực vật có tác dụng như một dược liệu đối với cơ thể. Năm 2005 cả nước có dân số 88 triệu người, phấn đấu bình quân nhu cầu tiêu thụ 96,3 kg/người/năm, tức khoảng 263,8 g/người/ ngày.
Phấn đấu đến năm 2010 mức tiêu thụ 105,9 kg/người/năm tức 290,1 g/người/ngày với dân số chừng 95,8 triệu người [5]. Về giá trị kinh tế - Rau là một mặt hàng xuất khẩu giá trị và có ý nghĩa chiến lược Rau là cây trồng đem lại nhiều lợi nhuận góp phần phát triển kinh tế quốc dân đáng kể, ngoài ra rau còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Trong những năm gần đây thị trường xuất khẩu rau được mở rộng, năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 329. n 5 Các loại rau chính xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là dưa chuột, cà chua, cà rốt, hành, ngô rau, đậu rau, ớt cay, nấm.
trong đó dưa chuột và cà chua có nhiều triển vọng và chúng có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định. Hàng năm lượng rau được xuất khẩu rất nhiều cả dạng rau tươi và qua chế biến như rau đóng hộp, rau gia vị, rau muối. trong đó rau tươi là hơn trên 200. - Rau là nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm Những loại rau được sử dụng trong công nghiệp chế biến xuất khẩu dưới dạng tươi, muối, làm tương, sấy khô, xay bột.
công nghệ đồ hộp (dưa chuột, cà chua, ngô rau, măng tây, nấm.), công nghiệp bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây, cà chua.), công nghiệp sản xuất nước giải khát (cà chua, cà rốt.), công nghiệp chế biến thuốc dược liệu (tỏi, hành, rau gia vị), làm hương liệu (hạt ngò (hạt mùi), ớt, tiêu. Đồng thời cũng là loại rau dự trữ được sử dụng trong nội địa. - Rau là nguồn thức ăn cho gia súc Với chăn nuôi gia súc, gia cầm, rau giữ vai trò khá quan trọng: 1 đầu lợn tiêu thụ 1 ngày 2-3kg rau, trong đó có 50 - 60% loại rau dùng cho người: rau muống, bắp cải, su hào, dền, mồng tơi, rau ngót, rau đậu, lang. Trung bình 9kg rau xanh thì cho 1đơn vị thức ăn và 100g đạm tiêu hóa được.
Rau thường chiếm 1/3 - 1/2 trong tổng số đơn vị thức ăn giành cho chăn nuôi, vậy muốn đưa chăn nuôi lên ngành sản xuất chính phải tính toán vấn đề sản xuất rau và các loại rau có giá trị dinh dưỡng cao. - Trồng rau sẽ phát huy thế mạnh của vùng, tăng thu nhập hơn so với một số loại cây trồng khác Cây rau dễ trồng, lại có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng cho năng suất cao, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, tận dụng được đất đai, thời tiết khí hậu, công lao động nông nhàn, quay vòng đồng vốn nhanh, có thể chuyển đổi n 6 cơ cấu cây trồng, mang lại lợi nhuận cao so với một số cây trồng khác cũng trồng trên chân đất ấy [5]. Sản xuất rau là ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao. Giá trị sản xuất 1 ha rau gấp 2 - 3 lần một ha lúa.
Từ 2003 đến nay, ngành nông nghiệp phấn đấu thu nhập 50 triệu/ha/năm, thì cây rau có thể thu được giá trị sản xuất 70- 100 triêụ đồng/ha/năm. Nông dân trồng rau có xu hướng tạo thu nhập cao hơn nông dân trồng cây khác vì năng suất và giá trị của cây rau cao hơn một cách đáng kể. Vì vậy đây là điều kiện thuận lợi để người nông dân đầu tư mở rộng diện tích trồng rau.1:So sánh chi phí sản xuất và tổng thu nhập từ rau và lúa ở Đài Loan C hi phí sản xuất Năng suất Tổng thu nhập Stt Cây trồng (USD/ha) (tạ/ha) (USD/ha) 1 Lúa 7. Về giá trị làm thuốc Một số loại rau còn được sử dụng để làm thuốc, được truyền miệng từ đời này qua đời khác, đặc biệt cây tỏi được xem là dược liệu quý trong nền y học cổ truyền của nhiều nước như Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam.