chương I, Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Như vậy, nguồn nhân lực của một quốc gia bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó, lực lượng lao động là những người với mọi trình độ đang làm việc và người trong độ tuổi lao động nhưng thất nghiệp không có việc làm. Lao động dự trữ bao gồm học sinh, sinh viên trong độ tuổi lao động.
- Ở cấp độ một cơ quan, một tổ chức, một doanh nghiệp: Nguồn nhân lực bao gồm tất cả mọi cá nhân có trình độ học vấn, kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm tích lũy khác nhau nhưng được sắp xếp, 5 bố trí đảm nhận ở các vị trí khác nhau nhưng đều cùng mục tiêu chung của tổ chức. Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính.
Để đánh giá nguồn nhân lực thường người ta xem xét hai yếu tố là số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực biểu hiện qua quy mô và tốc độ phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực biểu hiện qua trí lực đó là trình độ học vấn, kiến thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm tích lũy được, ý thức và tác phong của người lao động. Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực còn biểu hiện qua tình trạng sức khỏe, mức sống, thu nhập, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế, phúc lợi xã hội,.
Vai trò của nguồn nhân lực Đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, nguồn lực có một vai trò vô cùng quan trọng. Phát triển kinh tế, xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực.song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng thì chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Ngay cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại thì cũng không thể tách rời nguồn lực con người. Đối với máy móc thiết bị hiện đại nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người thì chúng chỉ là vật chất.
Chỉ có tác động của con người mới phát động chúng và đưa chúng vào hoạt động. Chính vì vậy, nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực của con người được huy động vào quá trình sản xuất thì năng lực đó chính là nội lực của con người. Trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nguồn nội lực quan trọng cho sự phát triển. Đặc biệt đối với nước ta là nước đang phát triển, dân số đông, nguồn 6 nhân lực dồi dào đã trở thành nguồn nội lực quan trọng nhất.
Nếu biết khai thác nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển. Mặt khác, phát triển kinh tế xã hội nhằm mục tiêu phục vụ cho con người, chính con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Nhu cầu của con người lại vô cùng phong phú, đa dạng và thường xuyên tăng lên, điều đó tác động tới quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Đối với các doanh nghiệp, nhân lực chính là yếu tố đầu vào có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
Tất cả hoạt động của doanh nghiệp đều không thể thực hiện mà không có sự có mặt của nguồn nhân lực, từ việc phân tích dự báo nhu cầu sản xuất, lập kế hoạch, quyết định chiến lược sản xuất kinh doanh cho đến việc vận hành máy móc, thiết bị, xác định nhu cầu vốn, vật tư, bán hàng, chăm sóc khách hàng, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi. Hơn bao giờ hết, cùng với sự gia tăng của hàm lượng chất xám trong sản phẩm dịch vụ, vai trò của con người ngày càng trở nên quan trọng và trở thành nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một quốc gia nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Chính vì nguồn nhân lực có vai trò quan trọng như vậy đối với sự thành công của một tổ chức mà phát triển nguồn nhân lực có thể cung cấp cho các nhà quản lý những công cụ họ cần để quản lý và phát triển tổ chức. Tất cả các khâu từ sản xuất, quản lý, Marketing, bán hàng, nghiên cứu và phát triển có thể đạt hiệu quả nếu người lao động được đào tạo, cung cấp thông tin đầy đủ, được quản lý, sử dụng và phát triển tốt.
Quản trị nguồn nhân lực Có nhiều khái niệm khác nhau về quản trị nguồn nhân lực: + Quản trị nguồn nhân lực là sự phối hợp, một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức. 7 + Quản trị nguồn nhân lực là quá trình quản lý con người trong một tổ chức có định hướng đến những mục tiêu của cả tổ chức và cá nhân một cách khoa học. + Quản trị nguồn nhân lực là nghệ thuật sử dụng hiệu quả các trình độ, năng lực của mọi người để đạt được mục tiêu chung của tổ chức và sự hài lòng của từng cá nhân trong tổ chức và xã hội. Quá trình quản trị nguồn nhân lực là một quá trình phối hợp một cách tổng thể các hoạt động: phân tích, hoạch định, tuyển mộ, đào tạo, tổ chức sử dụng, duy trì, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự phát huy hết năng lực nhằm đạt được mục tiêu chiến lược đã định hướng của tổ chức.
Quản trị nguồn nhân lực là một lĩnh vực phức tạp và khó khăn. Làm công tác quản trị nguồn nhân lực đòi hỏi phải khoa học vì nó bao gồm nhiều vấn đề như tâm sinh lý, xã hội học, triết học, đạo đức học và thậm chí cả dân tộc học. Không những thế, làm công tác quản trị nguồn nhân lực đòi hỏi phải có nghệ thuật, đó là nghệ thuật quản trị con người vì mỗi con người có tư duy, có đức tính khác nhau vì thế không áp dụng máy móc rập khuôn theo một công thức có sẵn mà cần vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Quản trị nguồn nhân lực bao gồm các nội dung: Phân tích công việc, hoạch định nguồn nhân lực, tuyển dụng nhân viên, tổ chức và sử dụng nhân lực, đánh giá hiệu quả làm việc, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, lương bổng và đãi ngộ, khen thưởng và kỷ luật.
Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 1. Chỉ tiêu về năng lực trình độ chuyên môn Năng lực trình độ chuyên môn là khả năng hiểu biết, khả năng thực hành về một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó. Đó cũng là trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp, chính quy. Các chỉ tiêu phản ánh trình độ chuyên môn kỹ thuật như trình độ tay nghề theo bậc thợ, số lao động qua đào tạo hay chưa qua đào tạo, tỷ lệ cán bộ đại học, trên đại học.
Chỉ tiêu về ngoại ngữ Mỗi tổ chức yêu cầu về trình độ ngoại ngữ khác nhau, và mỗi một ngành nghề cũng đòi hỏi trình độ ngoại ngữ khác nhau. Các chỉ tiêu phản ánh trình độ ngoại ngữ như trình độ A, B, C, TOEFL,… 1. Chỉ tiêu về kinh nghiệm, khả năng thích ứng Đây là yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, là yếu tố ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng nguồn nhân lực nói riêng và sự phát triển nguồn lực con người nói chung. Chỉ tiêu về nhân cách, đạo đức nghề nghiệp Là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất tốt đẹp và sự hoàn thiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực tiển lao động sản xuất và sáng tạo cá nhân.
Những giá trị đó gắn liền với năng lực tư duy và hành động cụ thể của con người, tạo nên chất lượng nguồn nhân lực. Nó tạo ra động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con người. Nói cách khác, nó góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tố thể lực và trí lực của con người với tư cách nguồn nhân lực của xã hội. Chỉ tiêu sức khỏe Là tình trạng sức khỏe của con người, biểu hiện ở sự phát triển bình thường, có khả năng lao động.
Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiển của con người, có thể đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con người có khả năng học tập và hoạt động lâu dài. Để phản ánh điều đó có những chỉ tiêu biểu hiện như tiêu chuẩn đo lường chiều cao, cân nặng, thần kinh, tâm thần, các giác quan nội khoa, ngoại khoa. Phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Phát triển là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.
9 Phát triển nguồn nhân lực (Human resource development - HRD) theo từ điển Longman Business là: “ một bộ phận của quản trị nguồn nhân lực chú trọng đến khâu đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên. Phát triển nguồn nhân lực bao gồm việc đào tạo các cá nhân sau khi họ được thu nhận vào làm việc cho tổ chức, cung cấp cho họ những cơ hội học tập các kỹ năng mới, tạo điều kiện để họ thực hiện nhiệm vụ của mình trong tổ chức cùng với các hoạt động mang tính phát triển khác”.Rouda và Mitchell E.Kusy (Human resource development Review, 2006): “ Phát triển nguồn nhân lực là những hoạt động huấn luyện được sắp xếp trong tổ chức nhằm mục đích đẩy mạnh hoạt động và sự phát triển của các cá nhân và tổ chức.