Chương I: Tổng quan công cụ tài chính phái sinh Chương II: Thực trạng sử dụng các công cụ tài chính phái sinh tại các NHTM Việt Nam hiện nay Chương III: Giải pháp phát triển nghiệp vụ phái sinh tại các NHTM Việt Nam. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH 1. Tổng quan về công cụ phái sinh 1. Khái niệm về công cụ phái sinh Công cụ tài chính phái sinh là công cụ được phát hành dựa trên công cụ tài chính đã có trước, dưới hình thức các hợp đồng phái sinh cụ thể, được sử dụng với mục đích phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.
Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất. Đặc điểm của công cụ phái sinh Thứ nhất, các công cụ tài chính phái sinh có giá trị thay đổi theo giá trị công cụ cơ sở. Sự thay đổi của các biến số cơ sở chính là điều kiện hình thành công cụ tài chính phái sinh. Do đặc điểm này việc định giá các công cụ phái sinh rất khác biệt so với các công cụ tài chính khác.
Chẳng hạn, để định giá một công cụ phái sinh, giả sử như định giá của một quyền chọn bán 1.000 tấn gạo tại thời điểm 02/06/2010, ngày đáo hạn là 02/06/2012, ta cần xét đến những biến động về giá trị thị trường của tài sản, giá thực hiện của quyển chọn bán, lãi suất phi rủi ro, mức độ biến động tỷ suất lợi nhuận của tài sản,… Như vậy, giá trị các công cụ tài chính phái sinh phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi giá trị của tài sản cơ sở. Thứ hai, công cụ phái sinh hoạt động theo cơ chế đòn bẩy. Tức là công cụ phái sinh không yêu cầu một khoản đầu tư ban đầu nào hoặc chỉ yêu cầu một khoản đầu tư thuần ban đầu thấp hơn so với hợp đồng khác tương tự. Điều này có nghĩa là một nhà đầu tư không cần bỏ ra bất kỳ một khoản tiền nào( giao dịch kỳ hạn, hoán đổi.) hoặc chỉ bỏ ra một khoản tương đối nhỏ( ví dụ phí quyền chọn trong giao dịch quyền chọn, khoản đặt cọc và duy trì trong giao dich tương lai,.) so với các hợp đồng tương tự( ví dụ hợp đồng giao ngay) nhưng vẫn có thể tham gia thị trường phái sinh và thu lợi nhuận hoặc phòng ngừa rủi ro.
Thứ ba, các nhà đầu tư khi tham gia thị trường phái sinh có quyền thanh toán (đôi khi là từ chối thanh toán trong các hợp đồng quyền chọn) tại hoặc trước một thời điểm nhất định theo thỏa thuận (đối với thị trường phi tập trung) hoặc theo quy định (đối với thị trường tập trung). Đây cũng được coi là đặc điểm nổi trội của các công cụ tài chính phái sinh. Phân loại công cụ phái sinh 1. Hợp đồng kỳ hạn (Forward contracts) + Khái niệm: là một thỏa thuận giữa hai bên, người mua và người bán, để mua hoặc bán một số lượng nhất định đơn vị tài sản cơ sở, ở một thời điểm xác định trong tương lai, theo một mức giá xác định ngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng.
Tài sản ở đây có thể là bất cứ hàng hóa nào, nông sản, các đồng tiền, chứng khoán hay các chỉ số chứng khoán. Thời điểm thỏa thuận hợp đồng gọi là ngày thỏa thuận hay ngày kí hợp đồng (T). Thời điểm xác định trong tương lai gọi là ngày thanh toán hợp đồng hay ngày đáo hạn (T+n, n>2). Thời gian từ khi kí hợp đồng đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của hợp đồng.
Mức giá áp dụng trong mua bán kỳ hạn gọi là giá kỳ hạn. Giữa giá kỳ hạn và giá giao ngay thường có một độ lệch nhất định, độ lệch đó được gọi là điểm kỳ hạn (forward point). Từ đó, ta có thể viết: P = F – S, trong đó: P là điểm kỳ hạn, S là giá giao ngay và F là giá kỳ hạn. Nếu vào ngày đáo hạn giá thực tế cao hơn giá thực hiện, người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận.
Nếu giá thấp hơn, người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ. + Đặc điểm: - Hợp đồng kỳ hạn được mua bán trên thị trường tài chính phi tập trung (OTC) - Trong hợp đồng này, người mua được gọi là người giữ vị thế “long position”, và người bán được gọi là người giữ vị thế “short position”. - Thông thường hợp đồng này được thực hiện giữa các tổ chức tài chính với nhau, hoặc giữa các tổ chức tài chính với các khách hàng là các doanh nghiệp phi tài chính (hợp đồng thường được kí kết song phương) - Hợp đồng này chỉ được thực hiện khi đáo hạn. Đến thời điểm đáo hạn người giữ vị thế “short position” phải thực hiện bán tài sản cho người giữ vị thế “long position” và nhận một khoản tiền từ người mua với mức giá cả đã định trước trong hợp đồng, cho dù vào thời điểm đó giá thị trường của tài sản đó có cao hơn hoặc thấp hơn giá xác định trong hợp đồng.
Nếu giá thị trường cao hơn giá hợp đồng thì người giữ vị thế “long position” sẽ có lãi (có giá trị dương), còn người giữ vị thế “short position” bị lỗ (có giá trị âm) và ngược lại. + Ưu điểm: 4 - Hai bên được tự do thỏa thuận về hàng hóa, số lượng, thời hạn hợp đồng và phí giao dịch. - Có thể tránh được rủi ro biến động giá do giá là cố định và biết trước + Nhược điểm: - Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi hai bên vẫn phải thực hiện hợp đồng. - Có thể có tổn thất nếu như giá biến động không như dự đoán của một trong hai bên - Chỉ quan tâm đến tỷ giá ở hai thời điểm thỏa thuận và thanh toán - Hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu mua bán tài sản trong tương lai của khách hàng còn ở hiện tại thì không.
Trên thực tế, đôi khi khách hàng có thể vừa có nhu cầu mua bán tài sản ở hiện tại vừa có nhu cầu mua bán tài sản ở tương lai. Như vậy, trong tình huống này hợp đồng kỳ hạn chưa thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng. + Xét ví dụ Ngày 04/08/200x tại ngân hàng ACB có hai khách hàng liên hệ giao dịch ngoại tệ kỳ hạn: Công ty Saigonimex liên hệ với ACB để bán 90.000EUR kỳ hạn 6 tháng. Công ty Cholimex liên hệ muốn mua 100.000EUR kỳ hạn 3 tháng.
Đáp ứng nhu cầu giao dịch của khách hàng, ACB sẽ chào tỷ giá mua kỳ hạn 6 tháng cho công ty Saigonimex và tỷ giá bán kỳ hạn 3 tháng cho công ty Cholimex. Thông tin cần thiết để xác định tỷ giá kỳ hạn bao gồm: Tỷ giá giao ngay USD/VND: 15888 – 15890 Tỷ giá giao ngay EUR/USD: 1,2248 – 1,2298 Kỳ hạn EUR (%/ năm) VND( %/ năm) Tiền gửi Cho vay Tiền gửi Cho vay 3 tháng 4,5 6,2 0,65 0,96 6 tháng 4,8 6,5 0,68 0,98 Vào ngày thoả thuận, dựa vào thông tin tỷ giá và lãi suất trên đây, ACB sẽ xác định và chào tỷ giá kỳ hạn cho khách hàng như sau: 5 Đối với Saigonimex, ACB chào tỷ giá mua EUR/VND kỳ hạn 6 tháng. Để xác định tỷ giá này trước tiên cần xác định tỷ giá mua giao ngay(Sm) EUR/VND = EUR/USD x USD/VND = 1,2248 x 15888 =19459. Kế đến tỷ giá mua kỳ hạn được xác định theo công thức: Fm = Sm + Sm [ Ltg( VND) – Lcv(EUR)]N/[100*360] = 19459 + 19459[0,65− 6,5]180/[100∗360] =18889 Đối với Cholimex, ACB chào tỷ giá bán EUR/VND kỳ hạn 3 tháng.
Để xác định tỷ giá này trước tiên cần xác định tỷ giá bán giao ngay( Sb) EUR/VND = EUR/USD x USD/VND = 1,2298 x 15890 = 19541. Tỷ giá bán kỳ hạn( Fb) sẽ được tính theo công thức: Fb = Sb + Sb [ Lcv(VND) – Ltg(EUR)]N/ [100*360] = 19541 + 19541[0,96 - 4,5] 90/ [100*360] = 19368 Với tư cách là công cụ phòng ngừa rủi ro, hợp đồng có kỳ hạn được sử dụng để cố định khoản thu nhập hay chi trả theo một tỷ giá cố định đã biết trước cho các doanh nghiệp, bất chấp sự biến động tỷ giá trên thị trường. Hợp đồng tương lai (Future contracts) + Định nghĩa: là hợp đồng kỳ hạn được chuẩn hóa nên về cơ bản, hợp đồng tương lai có những điểm giống với hợp đồng kỳ hạn. Tuy vậy, khác với hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai được giao dịch trên thị trường có tổ chức, được gọi là Sở giao dịch.
Theo thông lệ quốc tế, Sở giao dịch được đặt tại ngân hàng giao dịch hoặc trung tâm giao dịch tài chính. + Cơ chế trên sàn giao dịch hợp đồng tương lai: - Các bên mở một tài khoản trên Sở giao dịch và đặt cọc một khoản tiền (tiền kí quỹ) Ký quỹ ban đầu (initial margin): là số tiền phải đặt cọc vào ngày bắt đầu giao dịch Ký quỹ duy trì (maintenance margin): là số tiền mà mỗi bên phải góp thêm vào để duy trì cho số tiền ký quỹ luôn ở mức tối thiểu nào đó. - Trung tâm thanh toán bù trừ sẽ tính toán chênh lệch giữa giá thanh toán hiện tại và giá thanh toán ngày trước đó. Nếu chênh lệch này là một số dương do giá thanh toán tăng, thì số tiền sẽ được cộng thêm vào tài khoản ký quỹ của những người nắm 6 giữ vị thế mua.
Số tiền này được thanh toán từ tài khoản của những người nắm giữ vị thế bán. Và ngược lại, nếu chênh lệch là số âm do giá thanh toán giảm, thì tài khoản kí quỹ của người nắm giữ vị thế mua sẽ tự động bị trừ một khoản tiền đúng bằng phần chênh lệch. Khi số dư tài khoản giảm xuống dưới mức kí quỹ duy trì thì người mua sẽ nhận được một “margin call”, yêu cầu bổ sung tiền để đưa số dư tài khoản về mức kí quỹ ban đầu.1 Mô hình mô tả cơ chế giao dịch trên sàn Quy trình giao dịch: (1a, 1b): Người mua (người bán) mở một tài khoản với người môi giới (2a, 2b): Người môi giới mở tmkài khoản với công ty môi giới (3): Công ty môi giới mở tài khoản với Sàn giao dịch (4): Tài khoản sẽ được quản lý tại trung tâm thanh toán bù trừ của Sở giao dịch, yêu cầu các bên ký quỹ (5, 6, 7, 8, 9): Tài khoản được tất toán hàng ngày, yêu cầu các bên ký quỹ bổ sung nếu số dư xuống dưới mức duy trì + Quản trị rủi ro bằng hợp đồng tương lai.