CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHÁT TRIEN LANG NGHE MOC THUONG THON, XA LIEN HA, HUYEN DAN PHUONG, THANH PHO HA NOI 1. Nghề va làng nghề thủ công truyền thống 1. Khát niệm Việt Nam là đất nước của nông nghiệp và thủ công nghiệp, trong nền kinh tế tự cấp tự túc, người nông dân phải tự sáng tạo ra những vật dụng hàng ngày bằng cách đơn giản. Sự phát triển dan dần khiến cho các nghề thủ công được mở rộng từ đó hình thành nên các làng nghề.
Nghề thủ công truyền thống Nghề thủ công truyền thống bao gồm rất nhiều nghề: gốm, đúc đồng, mộc, kim hoàn, rèn, sơn, dệt vải, làm quạt, làm nón. Day là những nghề xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này sang đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kế cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng máy móc hiện đại hỗ trợ sản xuất tuy nhiên vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phâm của nó vẫn thé hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. Nghè truyền thống thường xuất phát từ một vùng hay một làng nào đó. Da số người dân ở vùng đó, làng đó đều biết làm nghề truyền thống, ngoài ra có thể làm thêm những nghề khác.
Tại mỗi ngôi làng có nghé truyền thống sẽ xuất hiện những nghệ nhân tài ba, đội ngũ kĩ thuật lành nghề, lưu truyền các kĩ thuật và công nghệ truyền thống. Sản phẩm người dân làm ra vừa có tính nghệ thuật, vừa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Mỗi nghề thường có ông tổ nghề được người dân ghi công ơn và thờ phụng, đó là nét đẹp, là đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc mà đến nay vẫn khắc ghi trong sâu thắm trái tim của con người Việt Nam. Làng nghề truyền thống Làng là nơi sản sinh ra các nghề thủ công.
Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của thủ công nghiệp ở nông thôn. Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm làng nghề, các em đưa ra khái niệm ở những phương diện khác nhau. Về góc độ kinh tế, Tiến sĩ Dương Bá Phượng (2001), “Làng nghề là lang ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công 12 nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng.” Hay theo Thông tư số 116/2006/TT — BNN ngày 18 thang 12 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định số 66/2006/ND — CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, đã quy định “Làng nghé là một hoặc nhiều cum dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị tran có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiễu loại sản phẩm khác nhaw”.
Như vậy, làng nghề là một làng ở nông thôn, có nghề truyền thống dan tách ra khỏi nông nghiệp, sản xuất ra một hoặc nhiều sản phẩm khác nhau; những sản phẩm đó ẩn chứa những giá trị văn hóa, đó là sự vinh danh ông tô nghề, các kĩ thuật làm nghề truyền thống. đặc biệt có vai trò quan trọng đối với cuộc sống người dân, xã hội. Trong làng nghề, không nhất thiết người dân trong làng phải làm nghề thủ công, người thợ thủ công là những người nông dân trong mùa vụ và ngược lại người nông dân trở thành người thợ thủ công những lúc nông nhàn. Tính chuyên môn hóa trong nghề cao đã tạo ra những người thợ thủ công thực thụ.
Khi nghề phát triển, thay vì việc người nông dân tập trung vào đồng ruộng mà họ hướng sang nghề. Đặc diém của nghề và làng nghề thủ công truyền thống Thủ công mỹ nghệ Việt Nam có vốn truyền thống quý báu từ lâu đời, găn liền với tên tuổi các làng nghé, phố nghề trải dài khắp cả nước. Ban đầu, nghề phụ tận dụng thời gian rảnh rỗi, phát triển thành nhu cầu trao đổi hàng hóa, tìm kiếm thu nhập ngoài đồng dng. Các nghề thủ công được chọn lọc và dé dang phát triển ở quy mô cá nhân và sau đó mở rộng sang quy mô gia đình.
Dan dan, nghề thủ công được truyền bá trong các gia đình nghệ nhân, sau đó lan rộng và phát triển trong cả làng, hoặc nhiều làng lân cận theo nguyên tắc truyền nghề. Khác với sản xuất công nghiệp, trong sản xuất tiêu thủ công nghiệp, lao động chủ yếu dựa vào bàn tay khéo léo và khối óc sáng tạo của người thợ, nghệ nhân. Những sản phẩm làm ra tuy có giá trị sử dụng nhưng vừa mang dấu ấn của bàn tay tài hoa của người thợ, vừa mang hương vị riêng của một vùng quê nao đó. Đó là lý do tại sao hàm lượng văn hóa của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được đánh giá cao hơn nhiều so với các sản phẩm công nghiệp đại trà.
Từ khi trống đồng Đông Sơn và trống đồng Ngoc Li được phát hiện, thế giới đã biết đến một nền văn hóa Việt Nam thông qua những sản 13 phẩm phản ánh sinh động và sâu sắc văn hóa, tư tưởng, xã hội thời Hùng Vương. Đến nay, các sản phâm thủ công mỹ nghệ mang đậm bản sắc văn hóa như gốm Bát Tràng, bát đĩa, đồ sứ cao cấp với hoa văn Á Đông, mang đậm nét văn hóa Việt như những cánh chim lạc, Có thể nói, đặc điểm này là điểm thu hút khách hàng, đặc biệt là khách quốc té, tạo lợi thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ và được coi như một món quà lưu niệm đặc biệt trong mỗi chuyến đi. du lịch của du khách nước ngoài. Du khách đến thăm Việt Nam không thé không mang về nước một món đồ thủ công mỹ nghệ, dù ở nước họ có sản xuất được cũng không mang được bản sắc văn hóa Việt Nam.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là hàng hóa đơn thuần mà trở thành sản phẩm văn hóa mang tính nghệ thuật cao và được coi là biêu tượng của nghề truyền thống của người Việt. Vai trò của nghề và làng nghề thú công truyền thống Nghề và làng nghề thủ công truyền thống có ý nghĩa và tác dụng nhiều mặt trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của cư dân nông thôn, trong việc chuyên dịch cơ cấu kinh tế, góp phần quan trọng phát triển kinh tế, 6n định xã hội, đồng thời có ý nghĩa to lớn về bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc. Thứ nhát, là giải quyét viéc lam va giam tinh trang thiéu viéc lam, nâng cao diéu kiện sống ở nông thôn Trước hết là giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động trong làng nghề. Trên thực tế, làm nông nghiệp luôn là một nghề vất vả, nhiều khó khăn gian khổ trong khi nguồn thu nhập lại thấp và bap bênh do đặc trưng của nghề làm nông nghiệp là phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thời tiết, khí hậu.
Bên cạnh đó, nganh nông nghiệp còn có đặc trưng là mang tính thời vụ cao, vì thế có những khi người nông dân làm việc mệt nhọc từ sáng đến tối quần quật cho kip mùa vụ, nhất là vào vụ mùa hè thu, ngoài thu hoạch ra còn có vụ gieo cấy.nhưng lại có những khi nông nhàn, hầu như không có nhiều việc làm. Chính vi vậy, việc phát triển làng nghé sẽ góp phan giải quyết được thời gian nông nhàn đó cho đội ngũ lao động. Ngoài ra, hiện nay một số địa phương diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, các làng quê phải tìm kiếm nghề mới dé có thé qua đó tăng thêm thu nhập cho bản thân và gia đình. Do đó, các làng nghề mới được hình thành và phát triển, người dân ở đó tập trung vào sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ làng nghề để cải thiện đời sống.
Thứ hai, là góp phan giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thi và nông 14 thôn Vấn đề giảm bớt chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn luôn được xã hội quan tâm. Thông qua việc xem xét mức thu nhập bình quân đầu người từ làng nghề có thể so sánh với mức thu nhập ở thành thị, từ đó có thể đánh giá được khoảng cách thu nhập giữa thành thị và khu vực nông thôn. Do hầu hết làng nghề ở Việt Nam đều năm ở nông thôn, mặt khác ở nông thôn nếu làm ở làng nghề thì thông thường sẽ có nguồn thu nhập bình quân cao hơn so với sản xuất nông nghiệp thuần túy. Chính vì vậy mà thông qua phát triển làng nghề cũng có thể góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giảm khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, cùng với đó làng nghề phát triển sẽ góp phần làm giảm dòng lao động di cư tự do từ nông thôn ra các đô thị đây là một vấn đề mang tính quy luật của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường.
Thứ ba, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng là quá trình chuyên dịch cơ cấu kinh tế nước ta từ nông nghiệp là chủ yêu chuyên sang cơ câu mới: tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng lên dan, nhất là tỷ trọng của khu vực dịch vụ tăng nhanh, tỷ trọng của nông nghiệp giảm dần. Trong nội bộ kinh tế nông thôn cũng vậy, tỷ trọng của công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên, tỷ trọng của nông nghiệp sẽ giảm xuống. Phát trién ngành nghề nông thôn, làng nghề chính là con đường chủ yếu dé chuyển dich cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đó, chuyên từ lao động nông nghiệp năng suất thấp, thu nhập thấp sang lao động ngành nghề có năng suất và chất lượng cao với thu nhập cao hơn. Mục tiêu nâng cao đời sống của cư dân nông thôn một cách toàn diện cả về kinh tế và văn hóa cũng chỉ có thể đạt được nếu trong nông thôn, có cơ cấu hợp lý của nông thôn mới, có nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ vận động và phát triển tốt với hệ thống làng nghề tiếp nối truyền thống văn hóa làng nghề với chuỗi đô thị nhỏ văn minh, lành mạnh.
Thứ tư, là góp phân giữ gìn phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phương Phong tục, tập quán, ban sắc văn hóa của địa phương là yêu tố quan trọng. Ngoài việc ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh nó còn ảnh hưởng đến tiêu dùng và đời sống của dân cư ở nông thôn.