Chương 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỀN 1. Một số khái niệm 1. Du lịch Theo tô chức Dư lịch thế giới: “Du lịch là hoạt động của con người đen và ờ tại những nơi ngoài môi tnrờng hàng ngày của họ trong một thời gian nhất định với mục đích giải trí, công vụ hay những mục đích khác” Theo Luật du lịch 2017, Điều 3, khoản 1: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đen chuyến đi cùa con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ling nhu cầu tham quan, nghi dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Khách du lịch Theo Luật du lịch Việt Nam, tại điều 3, khoản 2, nêu rõ: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc đê nhận thu nhập ở nơi đến”.
Khách du lịch theo Luật du lịch Việt Nam, tại điều 10, chia thành 2 loại: - Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. - Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người mrớc ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thô Việt Nam. - Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ờ mrớc ngoài vào Việt Nam du lịch. - Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài.
Tài nguyên du lịch 10 Theo Luật du lịch Việt Nam, tại điều 3, khoản 4: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sờ đê hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, diêm du lịch, nhằm đáp ímg nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”. Theo Điều 15, khoản 1 và khoản 2, tài nguyên du lịch được chia ra làm hai loại: - Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yểu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thê được sử dụng cho mục đích du lịch. - Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cô, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lề hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thê được sừ dụng cho mục đích du lịch.
Du ìỊch sinh thái Theo Tô chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN): DLST là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đổi nguyên sơ đê thưởng thức và hiêu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hoá - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiêu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triên kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương. Theo Hiệp Hội Du lịch Sinh Thái (Ecotourism Society): DLST là du lịch có trách nhiệm đối với các khu thiên nhiên, nơi môi trường được bảo tồn và lợi ích của nhân dần địa plưrơng được bảo đảm. Theo Luật du lịch Việt Nam, tại điều 3, khoản 16: DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường. Tuyến du lịch 11 Theo quan niệm quốc tế, tuyến du lịch là một phần quan trọng của sản phàm du lịch thậm chí rất lâu trước khi du lịch được định nghĩa.
Các tuyến đường du lịch ban đầu hoặc là một phần của hệ thống thương mại hoặc được kết nối với các hoạt động tôn giáo. Theo Luật du lịch năm 2017 hiện hành đã bò quy định khái niệm về tuyến du lịch, do đó, dựa vào quy định tại khoản 9 điều 4 Luật Du lịch năm 2005 quy định thì: “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, diêm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không.” Trong từng trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có thê là tuyến nội tinh, tuyển nội vùng, tuyến liên vùng hoặc tuyến liên quốc gia. Neu dựa vào loại hình phương tiện vận chuyên, chúng ta có thê phân chia ra tuyến du lịch đường bộ, đường không, đường thủy. Các tuyến du lịch được xem là những sản phàm du lịch đặc biệt và việc xác định các tuyến du lịch phải dựa vào một số tiêu chuẩn nhất định, nham đảm bảo được tính hấp dẫn cao của sản phẩm du lịch.
Khu du lịch Theo Luật du lịch 2017, điều 3, khoản 6: Khu du lịch là khu vực có mi thể về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triên nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng cùa khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tinh và khu du lịch quốc gia. Theo điều 26, khoản 1 và khoản 2 của Luật du lịch, đê được công nhân là khu du lịch cấp tinh và khu du lịch quốc gia phải thỏa mãn các điều kiện. Điều kiện công nhận khu du lịch cấp tình bao gồm: 1) Có tài nguyên du lịch với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định; 2) Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỷ thuật, dịch vụ đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu khác của khách du lịch; 3) Có kết nối với hệ thống hạ tầng giao thông, viền thông quốc gia; 4) Đáp ứng điều kiện về an ninh, trật ựr, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường theo quy định cùa pháp luật.
Điều kiện công nhận khu du lịch quốc gia bao gồm: 1) Có tài nguyên du lịch đa dạng, đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định; 2) Có trong danh mục các khu vực tiềm năng phát triên khu du lịch quốc gia được cơ quan nhà nước có thâm quyền phê duyệt; 3) Có kết cấu hạ tầng, cơ sờ vật chất kỹ thuật, dịch vụ chất lượng cao, đồng bộ, đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu khác cùa khách du lịch; 4) Các điều kiện quy định tại diêm c và diêm d khoản 1 Điều này. Điêm du ỉỊch Điêm du lịch là một thuật ngữ rất rộng và đa dạng. Nó được sử dụng đê biêu thị một địa diêm có sức thu hút mạnh mẽ đối với khách du lịch. Sự hấp dẫn này được thê hiện thông qua sự đa dạng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các chất lượng của các dịch VỊ1 được cung cấp cho du khách.
Ngoài ra, các diêm du lịch cũng tạo sire hút bằng cách cung cấp các mặt hàng khác nhau như: khách sạn, giao thông, vận tải hoặc các khu vui chơi, giải trí và các hoạt động được quy hoạch. Theo Luật du lịch 2017, điều 3, khoản 7: Điêm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch. Sán phâm du ìịch Theo Luật du lịch 2017, điều 2, khoản 5: Sản phàm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch đê thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Tô chức Du lịch Thế giới (UNWT0) cho rằng: Sản phàm du lịch là sự tông hợp của 3 nhóm nhân tố cấu thành bao gồm Hệ thống dịch vụ, quản lý điều hành, Tài nguyên du lịch, Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật.
Từ những định nghĩa trên về cơ bản có thê hiêu một cách cụ thê và đơn giản thì: Sản phâm du lịch là một dịch vụ cung cấp các loại hàng hóa cho khách du lịch. Trong đó, sản phâm được tạo nên có sự khai thác của yếu tố tự nhiên xã hội và việc sừ dụng nguồn lực như lao động, cơ sở vật chất, trang thiết bị. của một vùng hay một quốc gia. Bao gồm 13 những yếu tổ hữu hình (hàng hoá) và những yếu tố vô hình (dịch vụ) đê cung cấo cho du khách hay nó bao gồm các hàng hoá, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.
Phát triên du lịch bền vừng Trước khi hiêu những nội dung liên quan đến phát triên du lịch bền vững, thì phải hiêu như thế nào là du lịch bền vững. Khái niệm về du lịch bền vừng được nhắc đen trọng hội nghị World Conservation Union năm 1996: Du lịch bền vững là việc di chuyên và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường đê tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc diêm văn hoá kèm theo, có thê là trong quá khír và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tê-xã hội của cộng đồng địa phương. Tuy rằng khái niệm phát triên du lịch bền vững ở Việt Nam được nhận định là còn tương đối mới. Nhưng thông qua các bài học kinh nghiệm và thực tiễn về phát triên du lịch bền vững ờ các nước trên thế giới, thi phát triên du lịch ở nước ta đang hướng tới có trách nhiệm đối với tài nguyên và môi trường.
Theo Luật du lịch 2017, điều 2, khoản 14: Phát triên du lịch bền vững là sự phát triên du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thê tham gia hoạt động du lịch, không làm tôn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai. Từ những định nghĩa trên, có thê hiêu đơn giản: Phát triên du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài nguyên ựr nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn và đảm bảo sự đóng góp cho công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, cho công tác bảo vệ môi trường đê phát triên hoạt động du lịch trong tương lai, và góp phần nâng cao mức sống cùa cộng đồng địa phương.2 Những đặc trưng và nguyên tắc của du lịch sinh thái 1.