Tổng quan nghiên cứu

Phát triển du lịch cộng đồng đang trở thành chiến lược trọng tâm nhằm thúc đẩy kinh tế bền vững và xóa đói giảm nghèo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình sở hữu diện tích tự nhiên 820 km2 (chiếm 17,6% diện tích toàn tỉnh) với hơn 70 km chiều dài mặt nước hồ thủy điện Hòa Bình và 30.522 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên chiếm 84,25%. Mặc dù hội tụ tài nguyên thiên nhiên phong phú như Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, vịnh Hiền Lương cùng bản sắc văn hóa đặc sắc của người Mường, Dao, Tày, xuất phát điểm kinh tế của huyện còn thấp với tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 lên tới 48,2%. Hoạt động du lịch cộng đồng mới bắt đầu hình thành từ năm 2014, đối mặt với nhiều rào cản về hạ tầng giao thông, chất lượng nguồn nhân lực và liên kết thị trường.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, đánh giá thực trạng phát triển giai đoạn 2017 - 2019, xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý kinh tế giai đoạn 2020 - 2025. Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại 4 xóm điển hình gồm xóm Ké, xóm Đá Bia, xóm Sưng và xóm Mó Hém thuộc 3 xã Hiền Lương, Tiền Phong, Cao Sơn. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ - du lịch từ 34,17% năm 2017 lên 37,30% năm 2019, góp phần nâng thu nhập bình quân đầu người lên 35,2 triệu đồng/năm và hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 35,7% vào năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Phát triển Du lịch Bền vững và Mô hình Du lịch Dựa vào Cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT) theo chuẩn mực của Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) và Quỹ Phát triển Châu Á. Các lý thuyết này nhấn mạnh sự tham gia chủ động của người dân bản địa vào quản lý, vận hành và thụ hưởng phần lớn lợi ích kinh tế nhằm bảo tồn tài nguyên sinh thái và văn hóa.

Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Du lịch cộng đồng: Loại hình du lịch do chính cộng đồng dân cư phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
  2. Du lịch sinh thái: Hình thức du lịch gắn liền với thiên nhiên và văn hóa bản địa, đề cao tính giáo dục môi trường.
  3. Du lịch bền vững: Hoạt động du lịch thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến nguồn tài nguyên của các thế hệ tương lai.
  4. Sức chứa du lịch: Ngưỡng tiếp nhận tối đa về không gian và tài nguyên tại điểm đến nhằm tránh quá tải môi trường và suy giảm chất lượng trải nghiệm.

Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, nhu cầu nhân lực ngành du lịch đến năm 2020 đạt 870.000 người, trong đó trình độ đại học, cao đẳng chiếm 15% và lao động dưới sơ cấp chiếm 49,00%, đòi hỏi khung đào tạo kỹ năng tại chỗ phải gắn chặt với thực tiễn cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình, Chi cục Thống kê huyện Đà Bắc và các báo cáo tổng kết giai đoạn 2017 - 2019 của Ủy ban nhân dân huyện Đà Bắc và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thực hiện qua điều tra khảo sát thực địa từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020 với quy mô mẫu là 90 cá nhân. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để khảo sát 80 du khách (mỗi xóm 20 khách tại xóm Đá Bia, xóm Ké, xóm Sưng, xóm Mó Hém), 10 hộ dân kinh doanh homestay và phỏng vấn sâu lãnh đạo Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Đà Bắc.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu dựa trên thống kê mô tả và thống kê so sánh thông qua phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm định lượng chính xác tốc độ tăng trưởng kinh tế, xác định mức độ dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế huyện và lượng hóa mức độ hài lòng của du khách đối với 5 nhóm yếu tố dịch vụ du lịch tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hoạt động du lịch cộng đồng thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện đạt 14,5%/năm trong giai đoạn 2017 - 2019. Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch rõ nét: ngành nông, lâm, thủy sản giảm từ 48,25% năm 2017 xuống 43,11% năm 2019, trong khi nhóm ngành dịch vụ, thương mại, du lịch tăng từ 34,17% lên 37,30%, đưa tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 43,2 tỷ đồng năm 2019.

Thứ hai, du lịch tạo sinh kế trực tiếp và nâng cao phúc lợi xã hội. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 33,6 triệu đồng (2017) lên 35,2 triệu đồng (2019). Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 48,2% năm 2018 xuống 35,7% năm 2019, tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới đạt 99,8% và tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên 39,45%.

Thứ ba, huyện đã hình thành mô hình quản trị hiệu quả thông qua sự ra đời của Công ty Cổ phần Du lịch cộng đồng Đà Bắc (Đà Bắc CBT). Mô hình homestay tại 4 xóm Ké, Đá Bia, Sưng, Mó Hém ghi nhận công suất phòng đạt 100% vào các dịp cuối tuần. Đáng chú ý, điểm du lịch cộng đồng xóm Đá Bia đã xuất sắc đạt Giải thưởng Du lịch cộng đồng ASEAN năm 2018.

Thảo luận kết quả

Thành công của du lịch Đà Bắc bắt nguồn từ sự hỗ trợ kỹ thuật bài bản của tổ chức phi chính phủ AFAP Việt Nam từ tháng 7/2014, kết hợp với vai trò điều phối thị trường của doanh nghiệp xã hội Đà Bắc CBT. Mô hình này giải quyết triệt để bài toán phân chia lợi nhuận công bằng cho người dân bản địa.

Khi so sánh với mô hình Làng văn hóa du lịch cộng đồng dân tộc Mông tại thôn Pả Vi Hạ, huyện Mèo Vạc (Hà Giang) với diện tích 46.430 m2 và tổng mức đầu tư 22 tỷ đồng cho 30 hộ dân, Đà Bắc có lợi thế về vốn đầu tư xã hội hóa linh hoạt hơn nhưng kết cấu hạ tầng giao thông kết nối liên xã còn nhiều hạn chế. Mặt khác, so với thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái) đạt 77.000 lượt khách và 184 tỷ đồng doanh thu năm 2018, quy mô khai thác của Đà Bắc còn khiêm tốn do cơ sở lưu trú homestay còn mang tính tự phát ở một số hộ.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn tối ưu qua biểu đồ cơ cấu kinh tế 3 khu vực giai đoạn 2017 - 2019 và bảng tổng hợp 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng, giúp cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện điểm nghẽn về hạ tầng kỹ thuật và kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ của lao động địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện quy hoạch không gian và nâng cấp hạ tầng giao thông kỹ thuật: Ủy ban nhân dân huyện Đà Bắc cần chủ trì phối hợp với Sở Giao thông Vận tải đầu tư nâng cấp tỉnh lộ 433, bê tông hóa 100% các tuyến đường trục thôn liên kết 4 xóm du lịch trọng điểm; xây dựng bãi đỗ xe đạt chuẩn và hệ thống cấp nước sạch hợp vệ sinh giai đoạn 2020 - 2023.
  2. Chuẩn hóa và nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch bản địa: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện phối hợp cùng Công ty Đà Bắc CBT tổ chức định kỳ 10 đến 15 lớp tập huấn nghiệp vụ lễ tân, chế biến món ăn và tiếng Anh giao tiếp mỗi năm, mục tiêu nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo từ 39,45% lên trên 55% vào năm 2025.
  3. Đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch trải nghiệm gắn với bảo tồn văn hóa: Các Hợp tác xã du lịch và cộng đồng dân cư triển khai 4 tuyến du lịch chuyên đề gồm trekking rừng nguyên sinh Phu Canh, chèo kayak khám phá lòng hồ Hòa Bình, trải nghiệm văn hóa thổ cẩm người Dao Tiền tại xóm Sưng và ẩm thực cá lồng sông Đà, phấn đấu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,2 ngày lên 2,5 ngày vào năm 2025.
  4. Tăng cường chuyển đổi số và xúc tiến thương hiệu du lịch cộng đồng: Ban Chỉ đạo Phát triển Du lịch huyện Đà Bắc liên kết với các doanh nghiệp lữ hành lớn tại Hà Nội, đẩy mạnh tiếp thị trên các nền tảng số và đại lý du lịch trực tuyến, mục tiêu đón trên 50.000 lượt khách/năm đến năm 2025, nâng tỷ trọng ngành dịch vụ du lịch đạt 40% đến 42% trong cơ cấu kinh tế huyện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cấp huyện, tỉnh: Ứng dụng khung chính sách quản lý kinh tế, phương pháp tính toán sức chứa du lịch và quy trình thành lập ban chỉ đạo du lịch cơ sở nhằm nhân rộng cho các địa bàn vùng cao.
  2. Doanh nghiệp lữ hành và các tổ chức phi chính phủ: Tiếp cận mô hình liên kết ba bên giữa nhà nước, doanh nghiệp xã hội Đà Bắc CBT và cộng đồng dân cư để thiết kế các tour du lịch trách nhiệm và triển khai các dự án sinh kế bền vững.
  3. Các hộ kinh doanh homestay và Hợp tác xã du lịch: Tham khảo tiêu chuẩn dịch vụ lưu trú đạt chuẩn ASEAN năm 2018, kỹ thuật bảo tồn kiến trúc nhà sàn truyền thống và cách thức quản lý tài chính cộng đồng.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Khai thác bộ số liệu khảo sát thực chứng 90 mẫu, phương pháp phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương và khung lý thuyết du lịch cộng đồng phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch cộng đồng tại huyện Đà Bắc bắt đầu hình thành từ khi nào và có bước đột phá gì? Hoạt động bắt đầu từ tháng 7/2014 dưới sự tài trợ của tổ chức AFAP Việt Nam nhằm xóa đói giảm nghèo. Bước đột phá lớn nhất là việc thành lập Công ty Cổ phần Du lịch cộng đồng Đà Bắc và sự kiện xóm Đá Bia đạt Giải thưởng Du lịch cộng đồng ASEAN năm 2018, mở rộng kết nối với các công ty lữ hành quốc tế.

Cơ cấu kinh tế huyện Đà Bắc chuyển dịch như thế nào trong giai đoạn 2017 - 2019? Ngành nông, lâm, thủy sản giảm tỷ trọng từ 48,25% năm 2017 xuống 43,11% năm 2019. Ngược lại, ngành dịch vụ, thương mại, du lịch tăng từ 34,17% lên 37,30%, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,5%/năm và đưa thu ngân sách địa bàn đạt 43,2 tỷ đồng.

Luận văn đã sử dụng quy mô mẫu và phương pháp khảo sát thực địa ra sao? Tác giả đã khảo sát 90 cá nhân từ tháng 01 đến tháng 05/2020. Mẫu khảo sát gồm 80 du khách tại 4 xóm Ké, Đá Bia, Sưng, Mó Hém, 10 hộ dân bản địa và các cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo Phòng Văn hóa - Thông tin huyện nhằm thu thập dữ liệu sơ cấp cho phân tích thống kê mô tả.

Hoạt động du lịch cộng đồng đóng góp thế nào vào mục tiêu giảm nghèo tại địa phương? Du lịch cộng đồng trực tiếp tạo việc làm, giúp thu nhập bình quân đầu người tăng từ 33,6 triệu đồng năm 2017 lên 35,2 triệu đồng năm 2019. Đặc biệt, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện đã giảm mạnh từ 48,2% năm 2018 xuống còn 35,7% năm 2019, khẳng định hiệu quả kinh tế rõ rệt.

Mô hình quản trị du lịch cộng đồng tại Đà Bắc có điểm gì đặc thù so với nơi khác? Đà Bắc vận hành theo mô hình doanh nghiệp xã hội thông qua Công ty Cổ phần Du lịch cộng đồng Đà Bắc. Đơn vị này giữ vai trò điều phối thị trường, phân bổ lượng khách đồng đều cho các homestay, kiểm soát chất lượng dịch vụ và trích quỹ tái đầu tư bảo tồn văn hóa, vệ sinh môi trường thôn xóm.

Kết luận

  • Khẳng định du lịch cộng đồng là đòn bẩy kinh tế mũi nhọn, đưa tỷ trọng ngành dịch vụ du lịch đạt 37,30% và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 35,7% năm 2019.
  • Hệ thống hóa thành công bài học thực tiễn từ mô hình doanh nghiệp xã hội Đà Bắc CBT và danh hiệu Giải thưởng Du lịch cộng đồng ASEAN năm 2018.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng tin cậy từ 90 phiếu điều tra thực địa tại 4 xóm trọng điểm xóm Ké, xóm Đá Bia, xóm Sưng và xóm Mó Hém.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp quản trị đồng bộ về quy hoạch hạ tầng, đào tạo nhân lực, đa dạng hóa sản phẩm và xúc tiến số cho giai đoạn 2020 - 2025.
  • Đóng góp cơ sở khoa học vững chắc cho chiến lược phát triển Khu du lịch quốc gia hồ Hòa Bình với 70 km mặt nước chạy dọc địa bàn huyện.

Giai đoạn 2020 - 2025 là thời điểm then chốt để huyện Đà Bắc nâng cấp đồng bộ hạ tầng tỉnh lộ 433 và số hóa chuỗi cung ứng dịch vụ. Các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu cần tăng cường phối hợp khai thác các phát hiện từ luận văn nhằm nhân rộng mô hình du lịch sinh thái bền vững trên toàn vùng Tây Bắc.