CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1. Tổng quan về lý thuyết phát triển bền vững 1. Khái niệm và các mô hình về phát triển bền vững Từ thế kỷ XIX qua thực tiễn quản lý rừng ở Đức người ta đã đề cập tới “phát triển bền vững”, nhưng mãi tới thập kỷ 80 của thế kỷ XX khái niệm này mới được phổ biến tương đối rộng rãi. Đến năm 1987, Ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED (nay là Ủy ban Brundtland) công bố thuật ngữ “phát triển bền vững’’ trong bản Báo cáo “tương lai chúng ta” như sau "Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Theo ông Jordan Ryan đại diện thường trú cuả UNDP tại Việt Nam thì “phát triển bền vững là một quá trình đảm bảo tăng tối đa phúc lợi của xã hội và xóa bỏ đói nghèo thông qua việc quản lý ở mức tối ưu và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên”. Ông khẳng định phát triển bền vững nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường. Đồng thời, chúng ta không nên coi phát triển bền vững như một phương tiện thuận lợi để gom tất cả các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường lại với nhau, mà cần có một quan điểm toàn diện để đảm bảo các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì mâu thuẫn nhau. Hệ kinh tế Phát triển bền vững Hệ xã hội Hệ tự nhiên Hình 1.
Mô hình phát triển bền vững mô phỏng theo quan điểm của Jordan [7,tr 10]. 11 Trong hội nghị thượng đỉnh về trái đất tháng 6/1992 tại Rio De Janeiro “phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp giữa ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội”. Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng những cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ.
Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững” (2005) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành…[10,tr 9].
Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường. Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam. "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững. Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa, đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của Worl Bank… Ngoài ra, còn một số quan niệm cho rằng “phát triển bền vững bên cạnh yếu 12 tố là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cần có cả sự bền vững về an ninh, chính trị và đảm bảo công bằng xã hội”.
Khái niệm phát triển bền vững mang tính chất toàn cầu nên không thể hiểu phát triển bền vững chỉ trong phạm vi một nước mà phải tính đến các yếu tố hợp tác quốc tế, yếu tố phát triển giữa các quốc gia, nhất là những ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường. Ngày nay, tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển. Tuy hiện, có khá nhiều quan điểm khác nhau về “phát triển bền vững” song tựu trung lại, tất cả đều thống nhất ở các nội dung trong Báo cáo Brundtland của Ủy ban môi trường và phát triển thế giới (nay là ủy ban Brundtland) như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa về cả 3 mặt: kinh tế - xã hội – môi trường để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của thế hệ hiện tại, nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sồng của các thế hệ tương lai”. Như vậy, để phát triển bền vững thì phải cùng đồng thời thực hiện 3 mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế; (2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội, nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư; (3) Cải thiện môi trường, môi sinh, đảm bảo phát triển lâu dài, vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Thể hiện qua hình 1.3 dưới đây: Mục tiêu kinh tế Phát triển bền vững Mục tiêu xã Mục tiêu sinh hội thái Hình 1. Mô hình phát triển bền vững của Ngân hàng thế giới Word Bank [7,tr 11]. 13 Kinh tế Giá trị của máy móc cạnh tranh quốc tế Nông nghiệp bền vững Bảo vệ nguồn nước Phát triển Kiểm soát thuốc BVTV Hệ thống Qua ta Bảo vệ chất lượng cuộc Hợp tác nông trại sống, văn hóa trong nhà Phát triển Chính sách thu nhập nước bền vững Nghiên cứu phát triển Sinh thái Xã hội Bảo vệ môi trường Bình ổn giá sống Quản lý và bảo vệ MT Chất lượng cảnh quan Bảo vệ vùng nông thôn Chất lượng nước Sức khỏe và sự AT Đa dạng sinh học Du lịch sinh thái Các giá trị giải trí Chống thất nghiệp Hình 1. Mô hình phát triển bền vững của Villen 1990 [7,tr 12].
Các nguyên tắc phát triển bền vững Qua nghiên cứu các tài liệu, sách chuyên khảo, các luận văn viết về phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững, nhất là giáo trình Du lịch bền vững của tác giả Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiến (2001) và tài liệu Phát triển bền vững du lịch Ninh Bình của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình (2013) đã đề cập, giới thiệu khá đầy đủ về các nguyên tắc phát triển bền vững, cụ thể như sau: Tại Hội nghị thượng đỉnh RIO 92 là hội nghị về “Môi trường và Phát triển”, hội nghị đã đề ra những văn bản quan trọng nhất của phát triển bền vững, đó là: Chương trình nghị sự 21 quốc tế và Tuyên bố chung về phát triển bền vững (Hộp 1). Giá trị và tầm ý nghĩa của của hai văn bản này được đánh giá ở mức cao nhất, cấp toàn cầu, bởi sự đồng thuận công nhận và nhất trí cam kết thực hiện của các nguyên thủ và người lãnh đạo cao cấp của phần lớn các quốc gia trên thế giới. Tuyên bố 27 nguyên tắc đã đề cập tới tất cả các lĩnh vực phát triển bền vững, bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, đặc biệt quan tâm tới các mục tiêu hòa bình, xóa nghèo đói, công bằng xã hội và trách nhiệm chung có phân biệt trong vấn đề bảo vệ môi trường. 14 Sau RIO, đã có thêm rất nhiều cố gắng mới trong nghiên cứu các nguyên tắc phát triển bền vững, nhằm mục tiêu bổ sung hoàn thiện, hoặc chi tiết hóa làm rõ nghĩa hơn, hoặc giản lược hóa, làm cho nó dễ hiểu và dễ áp dụng hơn.
Một trong những cố gắng theo hướng giản lược các nguyên tắc của phát triển bền vững đã được thực hiện bởi Luc Hens, một giáo sư ngành sinh thái nhân văn học người Bỉ và được PGS Nguyễn Đình Hòe đề cập đến nhiều nhất trong các ấn phẩm của mình. Đó là các nguyên tắc: 1- Sự ủy thác của nhân dân; 2- Phòng ngừa; 3- Bình đẳng giữa các thế hệ; 4- Bình đẳng trong nội bộ một thế hệ; 5- Phân quyền và ủy quyền; 6- Người gây ô nhiễm phải trả tiền; 7- Người sử dụng phải trả tiền. Tuy nhiên, theo tác giả bài viết này, vì là một hệ thống nguyên tắc phát triển bền vững giản lược, như chính mục tiêu mà Luc Hens đã tự đặt ra, nên các nguyên tắc phát triển bền vững của Luc Hens không thể thay thế cho 27 nguyên tắc phát triển bền vững của RIO 92 được. Mặt khác, chúng ta thấy rõ là Luc Hens quan tâm nhiều tới khía cạnh thể chế, nên 7 nguyên tắc của ông không bao trùm được hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường bền vững.
Nguyên tắc 6 và 7 không được diễn đạt rõ nghĩa, nhiều người đọc sẽ cho rằng nó là những vấn đề mà kinh tế môi trường phải giải quyết. Khả năng điều tiết trách nhiệm giữa người sử dụng và người gây ô nhiễm trong việc trả tiền bị chi phối mạnh bởi “Bàn tay vô hình” trong nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, chúng ta đều biết rằng Bộ luật Hình sự của Việt Nam đã có chương về tôi phạm môi trường. Điều đó có nghĩa là người gây ô nhiễm phải chịu tất cả các trách nhiệm, cả dân sự và kinh tế, chứ không chỉ có trách nhiệm trả tiền như Luc Hens nghĩ, và những nước đang phát triển, như Việt Nam, thì cũng đã bước đầu thể chế hóa nguyên tắc này.