phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên và công tác phát triển đội ngũ giảng viên trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I 4 z Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I thành trƣờng Đại học 5 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Từ khi xuất hiện hoạt động lao động tạo ra các giá trị phục vụ cuộc sống đã hình thành sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn.
Do đó cần có ngƣời đứng đầu để chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…, xuất hiện ngƣời quản lý và sự quản lý. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: QL khi là động từ mang ý nghĩa: - “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định - “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”.; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đƣa hệ vào thế “phát triển”. Nếu ngƣời quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” thì tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ phát triển không bền vững.
Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho trạng thái hoạt động của hệ ở thế cân bằng động. Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tƣơng tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). Sự quản lý đƣa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mƣu lƣợc, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau. 6 z Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm QL: - Nói đến QL không thể không nhắc đến tƣ tƣởng sâu sắc của Các- Mác, ông nhìn nhận vấn đề QL dƣới ý tƣởng phân công và hợp tác trong lao động: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng”.
- Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng đã xác định vai trò của ngƣời quản lý, đó là ngƣời quản lý mà chính trực thì không cần phải tôn nhiều công sức mà vẫn khiến ngƣời ta phải làm theo trong việc “chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. - Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “ Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”. Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống nhƣ “manager” và “leader” trong tiếng Anh. Trong thực tế chúng ta vẫn thƣờng lẫn lộn hai khái niệm.
Không phải nhà quản lý nào cũng là nhà lãnh đạo và không phải nhà lãnh đạo nào cũng là nhà quản lý. - Theo Haror Koontz, QL là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định. - Theo Mariparker Follit (1868 - 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc đƣợc thực hiện thông qua ngƣời khác”. - Tƣ tƣởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhƣng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện.
Ngƣời khởi xƣớng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì ngƣời quản lý phải là nhà tƣ tƣởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc. 7 z - Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo trong cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” thì “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể QL đến khách thể QL về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng”. - Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn “Lý thuyết quản lý” cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng”.
- Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”; “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hƣớng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt dƣợc những mục tiêu cụ thể”. Khi bàn đến hoạt động QL và ngƣời QL cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức”. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức nhƣ một nhóm có cấu trúc nhất định những con ngƣời cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt đƣợc mục đích đó một con ngƣời riêng lẻ không thể đạt đến. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và qui mô ra sao đều cần phải có sự QL và có ngƣời QL để tổ chức hoạt động và đạt đƣợc mục đích của mình.
Từ các định nghĩa đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm QL, đó là trả lời câu hỏi: Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách 8 z thể quản lý); Quản lý nhƣ thế nào? (Phƣơng thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì (Mục tiêu quản lý) và từ đó chúng ta có thể đƣa ra định nghĩa: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm bốn chức năng: (1) Kế hoạch: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý. (2) Tổ chức: Sự chuyển hóa những ý trƣởng trong kế họach thành hiện thực. (3) Chỉ đạo: Điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích hợp với hai chức năng trên.
(4) Kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Trong một chu trình quản lý cả bốn chức năng trên phải đƣợc thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình theo hƣớng phát triển trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng QL và là cơ sở cho việc ra quyết định trong QL. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài ngƣời, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại đƣợc kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng 9 z tiến lên. Giáo dục tồn tại, vận động và phát triển với tƣ cách là một hệ thống.
Theo cách nói của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển tất yếu phải có “nhạc trƣởng” là QLGD. Về QLGD cũng có khá nhiều quan điểm, đƣợc hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô và có nhiều định nghĩa nhƣ sau: Trong cuốn: “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”, tác giả M.I Kônđacốp định nghĩa: “ Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lƣợng cũng nhƣ mặt chất lƣợng”.Groupe Lewin trong cuốn “Hỗ trợ từ xa - Giải thích thuật ngữ tâm lý giáo dục” của Dự án Việt Bỉ thì “Quản lý giáo dục là quá trình nghiên cứu khoa học về các sự kiện và phƣơng pháp tham gia và quyết định tổ chức hoạt động giáo dục và khoa học quản lý chƣơng trình giáo dục”. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
Đối với tác giả Phạm Minh Hạc thì “ Quản lý giáo dục là quản lý trƣờng học, thực hiện đƣờng lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đƣa nhà trƣờng vận hành theo nguyên lý giáo dục 10 z để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.