Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa * Khái niệm doanh nghiệp Theo quy định của Luật Doanh nghiệp (2014), thì “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (Quốc hội, 2008).
Dựa trên quy định trên thì doanh nghiệp có những đặc điểm sau: - Là một tổ chức kinh tế có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch. - Đơn vị đã được đăng ký và hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật. Và theo điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Quốc hội, 2008). * Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 6 Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Ngành, nghề Tổng Số lao Tổng Số lao Số lao động nguồn vốn động nguồn động vốn Từ trên Từ trên 20 Từ trên 1.
Nông, 10 người trở 20 tỷ đồng 10 đến tỷ đồng 200 đến lâm nghiệp xuống trở xuống 200 đến 100 tỷ 300 và thủy sản người đồng người Từ trên Từ trên 20 Từ trên 2. Công 10 người trở 20 tỷ đồng 10 đến tỷ đồng 200 đến nghiệp và xuống trở xuống 200 đến 100 tỷ 300 xây dựng người đồng người Từ trên Từ trên 10 Từ trên 3. Thương 10 người trở 10 tỷ đồng 10 đến tỷ đồng 50 mại và dịch xuống trở xuống 50 người đến 50 tỷ đến 100 vụ đồng người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 Chúng ta thấy rằng việc phân loại quy mô doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam chủ yếu dựa vào 02 tiêu chí: - Thứ nhất: Dựa trên tổng nguồn vốn - Thứ hai: Dựa trên quy mô lao động * Khái niệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: Theo quan điểm biện chứng thì thuật ngữ “phát triển” dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. 7 Còn thuật ngữ “tăng trưởng” được dùng để chỉ quá trình biến đổi theo chiều hướng tăng lên đơn thuần về lượng của sự vật, nó không phản ánh quá trình biến đổi theo chiều hướng nâng cao về chất của sự vật.
Giữa tăng trưởng và phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau, tăng trưởng là điều kiện của phát triển và phát triển lại là điều kiện để tạo ra những sự tăng trưởng mới với tốc độ và quy mô lớn hơn. Để đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng các nhà nghiên cứu thường sử dụng một số tiêu chí đánh giá sự phát triển doanh nghiệp thông qua các tiêu chí tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp và các tiêu chí khác phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo khái niệm về phát triển kinh tế thì: Phát triển DNNVV là quá trình lớn lên về số lượng, quy mô của DN (lao động, nguồn vốn, doanh thu); hiệu quả hơn về chất lượng DN (lợi nhuận trên doanh thu, lợi nhuận trên 01 lao động, lợi nhuận trên vốn… thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước) và có sự hoàn chỉnh hơn về cơ cấu DN theo vùng lãnh thổ, thành phần kinh tế và ngành sản xuất kinh doanh (Lê Xuân Bá, Trần Kim Hào, Nguyễn Hữu Thắng, 2006). Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Đinh Phi Hỗ (2015), doanh nghiệp nhỏ và vừa có những đặc điểm sau: - Thứ nhất, về vốn kinh doanh: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có quy mô vốn nhỏ, điều này làm cho doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào thị trường.
Tuy nhiên, với quy mô vốn nhỏ đòi hỏi vòng quay vốn của doanh nghiệp phải nhanh. Mặt khác để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh được hiệu quả, doanh nghiệp thường phải đa dạng các hình thức huy động vốn, đôi khi phải huy động cả những nguồn vốn không chính thức để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. - Thứ hai, về công nghệ: Với quy mô hoạt động nhỏ chính vì thế doanh nghiệp nhỏ và vừa thường linh hoạt trong đổi mới công nghệ và trang thiết bị trong hoạt động 8 sản xuất kinh doanh, điều này giúp cho doanh nghiệp tồn tại và sống sót trên thị trường. - Thứ ba, về tổ chức quản lý DNNVV và người lao động: Doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô lao động không lớn.
Điều này tạo điều kiện dễ dàng trong tổ chức hoạt động doanh nghiệp, cũng như giúp nhà quản trị thực hiện các chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) hoạt động sản xuất kinh doanh được dễ dàng hơn. - Thứ tư, về hình thức sở hữu: Hầu hết doanh nghiệp nhỏ và vừa là các doanh nghiệp tư nhân hoặc trách nhiệm hữu hạn một hoặc nhiều thành viên. Bên cạnh đó, theo Nguyễn Thế Bính (2013), DNNVV ở các quốc gia đều có các đặc trưng cơ bản: - DNNVV có quy mô vốn và lao động nhỏ, lao động thủ công chiếm tỷ trọng lớn. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của DNNVV.
- Ngành nghề kinh doanh của DNNVV chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực đòi hỏi ít vốn, thời gian chu chuyển vốn nhanh. - Tổ chức bộ máy gọn nhẹ, linh hoạt, hiệu quả. - Thị phần của các DNNVV không lớn, khả năng chi phối thị trường không cao. Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược kinh doanh của DNNVV.
Ở Việt Nam, Đào Duy Huân và Đào Duy Tùng (2012) cho biết, ngoài những đặc trưng chung, DNNVV còn có đặc trưng: - DNNVV thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức sản xuất, hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. - Trình độ của chủ DN và người lao động không cao, đa phần chưa được đào tạo chính quy. - Khả năng tổ chức quản lý DN hạn chế, chưa có tính chuyên nghiệp. - Trình độ công nghệ, khả năng tài chính cho nghiên cứu triển khai thấp, khả năng tiếp cận thị trường không cao, nhất là thị trường nước ngoài.
9 - DNNVV thường sử dụng đất đai của mình làm mặt bằng sản xuất. Tính ưu việt và hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa a. Tính ưu việt Doanh nghiệp nhỏ và vừa có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống nhỏ và vừa trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh: Thứ nhất, dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là có thể bắt đầu hoạt động. Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định.
Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế. Thứ hai, sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao. Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm sẵn sàng mạo hiểm.
Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có 10 thể làm lại từ đầu được. Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt. Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm. Thứ ba, dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn. Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế. Thứ tư, không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động.
Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa tất nhiên là không lớn lắm. Số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt.