CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN VÈ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC DỊCH v ụ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THU ONG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM NGÂN HÀNG, HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm ngân hàng thưong mại Ngân hàng thương mại hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống Ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì Ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Đã có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại, Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính, ngày 23-5-1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó đê cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”[10, trl]. Hiện nay Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12, khoản 3 điều 4 quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ”[1 l,tr2].
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. 5 Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vụ tài chính. Ớ Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.
Như vậy chúng ta có thể xác định: Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng thương mại kinh doanh trên cơ sở điều kiện kinh tế và quy định của pháp luật, là tổ chức trung gian tài chính cung ứng vốn cho những nơi thiếu vốn. Vốn của NHTM có được ngoài vốn pháp định mà ngân hàng cần có để thành lập, NHTM huy động tiền nhàn rỗi, tiền gửi của dân cư, tổ chức với một mức lăi suất nhất định, số tiền thu được này ngân hàng sẽ cho các bên thiếu vốn vay và phải có cam kết hoản trả sau một thời gian số tiền gốc và lăi. Ngân hàng cũng dùng sổ vốn huy động được làm các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và các dịch vụ khác.
Lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay, làm các dịch vụ liên quan đển tiền và khoản đầu tư vào chứng khoán tạo ra nguồn thu nhập của ngân hàng.2 Các hoạt động của ngân hàng thương mại 1.1 Hoạt động huy động vốn Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM được thực hiện qua hành vi mở tài khoản để thực hiện thanh toán cho khách hàng, hoặc huy động các loại tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, dân cư , phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đi vay các Ngân hàng tổ chức tín dụng khác, đi vay Ngân hàng Trung ương. Đây là nguồn gốc để các NHTM phát tín 6 dụng vào nền kinh tế, còn phần vốn tự có của NHTM chủ yếu là để phục vụ cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mua sắm máy móc thiết bị. Như vậy có thể nói ngân hàng kinh doanh bằng nguồn vốn huy động là chủ yếu, tuỳ theo luật pháp của mỗi nước mà các NHTM được huy động một tỷ lệ cao hay thấp vốn huy động để kinh doanh. Thông thường vốn huy động của NHTM có thể gấp 20 lần vốn tự có của NHTM trở lên, hay nói cách khác đi vốn tự có của NHTM được quy định thông thường bằng hay lớn hơn 5% vốn huy động mà NHTM được phép huy động.
Ngoài nguồn vốn tự có, hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng thương mại trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh. Trong hoạt động này ngân hàng thương mại được sử dụng các công cụ và biện pháp mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại bao gồm: • Nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá. • Vay vốn • Huy động vốn khác.2 Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.
Tín dụng cũng có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế thông qua hoạt động cho vay các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản.đồng thời, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất, do vậy hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề bức thiết luôn được các ngân hàng quan tâm. Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ • Mở tài khoản giao dịch cho các khách hàng là pháp nhân hay thê nhân trong, ngoài nước. • Cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng như séc, ủy nhiệm chi, thẻ rút tiền ATM, thẻ tín dụng,. • Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế như séc, ủy nhiệm chi, chuyển tiền.
• Thực hiện các nghiệp vụ thu chi hộ. • Thực hiện dịch vụ thu và chi tiền mặt cho khách hàng. • Thực hiện dịch vụ thanh toán khác phục vụ cho các hoạt động phát hành kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính như: lưu kí đấu thầu, thanh toán tiền mua chứng khoán, nhận kí quỹ và tố chức thanh toán cho các hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường tài chính thứ cấp. • Thực hiện các nghiệp vụ ngân quỹ: thu chi tiền mặt, kiểm đếm, phân loại bảo quản vận chuyến tiền mặt.
• Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước. • Mua tài sản phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. • Phát triển các sản phẩm ngân hàng điện tử.4 Các hoạt động khác • Tham gia thị trường tiền tệ: Thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của ngân hàng nhà nước. • Góp vốn đầu tư, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác từ nguồn vốn tự có để đa dạng hoá danh mục đầu tư, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
• Hoạt động uỷ thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả 8 việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng. • Hoạt động kinh doanh bảo hiêm. • Hoạt động dịch vụ chứng khoán. • Các hoạt động khác như bảo quản vật quý hiếm, giấy tờ có giá, cho thuê két, dịch vụ cầm đồ, tư vấn tài chính và các dịch vụ khác theo quy định của Pháp luật.3 Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1.1 Ngăn hàng bản lẻ Ngân hàng bán lẻ là khái niệm chỉ những hệ thống ngân hàng lớn, nhiều chi nhánh mà đối tượng phục vụ thường là các khách hàng cá nhân, đơn vị riêng lẻ và tập trung vào các dịch vụ là tiết kiệm, tạo tài khoản giao dịch, thanh toán, thế chấp, cho vay cá nhân, các loại thẻ tín dụng.
Ta có thể hiểu theo nghĩa đơn giản, thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ”, có từ gốc tiếng Anh là “Retail banking”. Theo nghĩa đen là việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ ngân hàng, bán lẻ là bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng từng cái, từng ít một. Ngược lại ngân hàng bán buôn lại là dạng ngân hàng chỉ cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp, làm vai trò trung gian cho các doanh nghiệp.2 Dịch vụ ngân hàng bán lẻ Hiện nay ở nước ta vẫn chưa có khái niệm về dịch vụ ngân hàng. Trong Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, tại khoản 12 điều 4 lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được đề cập đến như sau: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”[l l,tr2,3].
Trong cuốn Từ điển Ngân hàng và Tin học thì dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân. 9 Như vậy ta có thể hiểu rằng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là những dịch vụ cung ứng tiện ích cũng như tín dụng Ngân hàng đến tận tay người tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt). Đối tượng khách hàng của ngân hàng bán lẻ do đó vô cùng lớn, gồm các công dân, các DN vừa và nhỏ, cùng những dịch vụ ngân hàng phi tín dụng cho các Tập đoàn, DN lớn.4 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Sản phẩm chủ yếu của dịch vụ ngân hàng bán lẻ nhắm tới các khách hàng cá nhân, nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của họ trong cuộc sống. Các khoản vay có giá trị nhỏ là cách họp lý nhất để để thỏa măn các nhu cầu nhưng lại không làm gia tăng sức ép phải trả nợ, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.