CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1. NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.Tổng quan về ngân hàng thương mại (NHTM) 1.Khái niệm Theo nhà kinh tế học David Begg định nghĩa: Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi. Theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Tóm lại: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ- tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân.Các hoạt động cơ bản của NHTM Khi mới ra đời, Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu là cho vay đối với lĩnh vực thương mại, nhưng ngày nay hoạt động của nó đã mang tính tổng hợp và đa năng.
Các Ngân hàng thương mại không chỉ có quan hệ rộng với mọi khách hàng thuộc các lĩnh vực và các thành phần kinh tế khác nhau, mà còn thực hiện rất nhiều các dịch vụ về tiền tệ - tín dụng. Hoạt động tạo lập nguồn vốn. Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp, bởi vậy muốn mở rộng các hoạt động kinh doanh, nó phải tự lập được nguồn vốn. - Vốn tự có Vốn tự có của Ngân hàng thương mại bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Trung ương.
Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, song nó có ý nghĩa quan trọng: Là cơ sở để thu hút nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng, sử dụng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngân hàng. Đồng thời, vốn tự có còn là cơ sở thu hút được nhiều nguồn vốn huy động và xác định hệ số an toàn trong kinh doanh của ngân hàng. Bởi vậy, các Ngân hàng thương mại không ngừng tăng cường bổ sung vốn điều lệ, trích lập các quỹ dự trữ và sử dụng các tài sản nợ. - Vốn huy động Huy động vốn nhàn rỗi là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của Ngân hàng thương mại.
Nó tạo ra nguồn vốn chủ lực trong kinh doanh. Ngân hàng thương mại thường huy động vốn nhãn rỗi của xã hội qua các hình thức nhận tiền gửi, phát hành các chứng từ có giá. Huy động tiền gửi là hình thức huy động vốn phổ biến của Ngân hàng thương mại. Các khoản tiền gửi có thể được chia thành tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào, nó có thể là tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Đặc trưng của loại nguồn vốn này đối với Ngân hàng thương mại là biến động thường xuyên. Do đó, cần quản lý chặt chẽ để nâng cao khả năng thanh toán cho ngân hàng. Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thế rút ra bất cứ lúc nào, nó có thể là tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Đặc trưng của loại nguồn vồn này đối với Ngân hàng thương mại là biến động thường xuyên. Do đó, cần quản lý chặt chẽ để nâng cao khả năng thanh toán cho ngân hàng. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Đây là nguồn vốn lớn và ổn định phù hợp với cho vay có kỳ hạn của Ngân hàng thương mại.
Huy động vốn thông qua phát hành chứng từ có giá là việc các Ngân hàng Thương mại phát hành các chứng từ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng để huy động vốn. Trong hình thức này, Ngân hàng chủ động phát hành chứng từ có giá theo đợt để bổ sung nguồn vốn kinh doanh, mà chủ yếu là vốn trung và dài hạn. - Vay vốn của các Ngân hàng Trong quá trình hoạt động kinh doanh một Ngân hàng thương mại có thể thiếu vốn ngắn hạn để thanh toán. Ngân hàng giải quyết bằng cách đi vay các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác hoặc của Ngân hàng Trung ương.
Vay vốn của các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng được thực hiện thông qua thị trường liên ngân hàng. Việc vay vốn này được thực hiện ở Ngân hàng thương mại Trung ương và sau đó sẽ điều chỉnh cho các chi nhánh trong hệ thống. Vay vốn của Ngân hàng Trung ương được thực hiện thông qua hình thức vay tái cấp vốn, vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ giữa các Ngân hàng thương mại và vay khi Ngân hàng mất khả năng thanh toán. - Huy động vốn trong thanh toán và vốn khác Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian thanh toán, Ngân hàng thanh toán không dùng tiền mặt theo lệnh của khách hàng, như vậy NH đã huy động được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức: tiền ký quỹ vào tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền chu chuyển trong thanh toán.
Khi thực hiện các dịch vụ, Ngân hàng huy động được vốn uỷ thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ hoặc bên nước ngoài. Trong thời gian chờ giải ngân, Ngân hàng Thương mại có thể huy động làm nguồn vốn kinh doanh. Hoạt động sử dụng vốn. Sử dụng vốn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sử dụng vốn ngày càng đa dạng và được thực hiện dưới nhiều hình thức: - Ngân hàng thương mại cho vay đối với khách hàng. Đây là hướng cơ bản trong sử dụng vốn của ngân hàng, gồm có cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn, dưới 12 tháng. Nó là loại cho vay phổ biến của Ngân hàng thương mại, nhằm bổ sung vốn lưu động cho khách hàng.
Cho vay trung và dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng. Loại cho vay này để khách hàng thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế. Mặt khác loại cho vay này cũng phù hợp với khả năng huy động vốn theo chiều hướng gia tăng của Ngân hàng thương mại và nhu cầu đa dạng của đối tác xin vay. - Hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu. Đầu tư chứng khoán: Ngân hàng mua chứng khoán và trở thành người sở hữu chứng khoán. Chứng khoán mà Ngân hàng có thể mua là tín phiếu kho bạc ngắn hạn, trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp. Mua chứng khoán mang lại lợi ích cho ngân hàng, đó là Ngân hàng sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động được để thu lợi nhuận mặt khác tăng cường khả năng thanh khoản cho các khoản dự trữ của mình.
Hơn nữa thông qua việc mua cổ phiếu, Ngân hàng thương mại còn có thể tham gia thành lập và quản lý các công ty cổ phần. Tuy nhiên, Ngân hàng thương mại chỉ được đầu tư chứng khoán ở một giới hạn nhất định theo quy định của pháp luật Nhà nước. Đầu tư vốn liên doanh, liên kết là việc Ngân hàng bỏ vốn ra để liên doanh, liên kết với các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác hoặc các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất thương mại, dịch vụ để tăng phần vốn góp, tạo ra những lợi thế cho Ngân hàng và nền kinh tế. c) Hoạt động dịch vụ ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng, được phát triển mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường và đưa lại nguồn thu đáng kể cho các Ngân hàng thương mại. Hoạt động dịch vụ được thực hiện dưới các hình thức sau: - Thanh toán, Ngân hàng thương mại là một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Dịch vụ này bao gồm thanh toán không dùng tiền mặt, hoặc thu chi tiền mặt, qua Ngân hàng. Đây là một nghiệp vụ truyền thống, đồng thời được phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trường.
Thông qua hoạt động thanh toán, Ngân hàng thu được lệ phí, tập trung được nhiều nguồn vốn và thông qua đó kiểm soát được chu chuyển tiền tệ trong nền KTQD. - Bảo lãnh là nghiệp vụ trong đó Ngân hàng Thương mại chịu trách nhiệm trả tiền thay cho bên được bảo lãnh, nếu họ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhiều hình thức, như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh chất lượng và khối lượng hàng hoá. - Kinh doanh ngoại tệ và vàng, Ngân hàng mua bán ngoại tệ và vàng ở thị trường trong nước và quốc tế. Lợi nhuận mang lại cho Ngân hàng là chênh lệch giữa giá bán và giá mua.
- Môi giới kinh doanh chứng khoán, Ngân hàng làm môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. - Hoạt động uỷ thác là Ngân hàng làm theo sự uỷ thác của khách hàng về một số công việc như quản lý tài sản, đại lý và đại diện tại các tổ chức kinh tế hoặc cơ quan pháp luật. - Hoạt động thông tin, tư vấn. + Ngân hàng Thương mại là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán.
Hơn nữa, NHTM là tổ chức có khá đầy đủ và cập nhật các thông tin về thị trường, giá cả do vậy nó có thể cung cấp các thông tin theo yêu cầu của khách hàng, trong giới hạn cho phép. + Do có trình độ nghiệp vụ có thông tin và kinh nghiệm nên Ngân hàng Thương mại có thể tư vấn cho khách hàng về xây dựng dự án đầu tư, phương án huy động vốn, phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp v. Khái niệm về ngân hàng bán lẻ Hiện nay có rất nhiều khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) tùy theo các cách tiếp cận và quan điểm khác nhau, dịch vụ NHBL được công nhận qua các nguồn sau: 1. Theo WTO Theo WTO, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của các ngân hàng nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các điểm giao dịch của NHTM để thực hiện các dịch vụ như: Gửi tiền, vay tiền, thanh toán, kiểm tra tài khoản, dịch vụ thẻ.