CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ INTERNET BANKING TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Dịch vụ Internet Banking 1. Khái niệm Internet Banking Trong thời đại hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực, việc phát triển các dịch vụ ngân hàng trực tuyến là hướng đi đúng đắn và cần thiết phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội nhập về ưu tiên cho công nghệ thông tin. Hiện nay, các sản phẩm có hàm lượng thông tin cao đang được các NHTM tích cực đầu tư và phát triển, như: phone banking, e- banking, home banking, ATM… Đặc biệt, dịch vụ Internet Banking với những tiện ích và tính ưu việt đang là một trong những mục tiêu hướng tới của các NHTM. Vậy, Internet Banking là gì? Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy cập công cộng, gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau.
Internet kết nối hàng trăm triệu người dùng, họ vào mạng để lấy thông tin, giải trí, mua sắm… nên đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, nếu biết khai thác đúng cách thì Internet sẽ trở thành nơi kết nối với nguồn cầu vô tận cho các sản phẩm của doanh nghiệp. Chính vì vậy, khai thác nguồn tài nguyên này là tất yếu đối với các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng nói riêng. Internet Banking chính là bước đi quan trọng nhất, đem dịch vụ ngân hàng đến với hàng triệu cư dân mạng. Theo Hội nghị Liên hợp Quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) thì: Internet Banking được hiểu là việc cung cấp các dịch vụ Ngân hàng trực tuyến.
Theo cách hiểu này, Internet Banking được hiểu là một hình thức Ngân hàng điện tử, theo đó các Ngân hàng thương mại triển khai các dịch vụ cho khách hàng thông qua mạng Internet. Theo Ủy ban Kiểm soát tiền tệ Hoa Kỳ thì: “Internet Banking - Ngân hàng Internet là hệ thống cho phép khách hàng của Ngân hàng có thể truy cập vào tài khoản và các thông tin chung về dịch vụ, sản phẩm của Ngân hàng thông qua một SV: Vũ Thị Thùy Linh Lớp :CQ49/15.07 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Tài chính máy tính cá nhân và các thiết bị thông minh khác”. Các dịch vụ sản phẩm của Ngân hàng bao gồm: quản lý tiền mặt, chuyển tiền hữu tuyến, giao dịch bù trừ tự động, xuất trình và thanh toán hối phiếu (bán buôn), kiểm tra số dư tài khoản, chuyển tiền, vấn tin giao dịch, xuất trình và thanh toán hối phiếu, đề nghị cấp tín dụng, hoạt động đầu tư và các giá trị gia tăng khác. Tương tự như vậy, cách tiếp cận của các nhà quản lý của Ngân hàng Trung ương Malaysia cũng thống nhất rằng Ngân hàng Internet là việc các tổ chức Ngân hàng cung cấp các dịch vụ, sản phẩm Ngân hàng qua Internet thông qua việc truy cập từ các thiết bị đầu cuối bao gồm máy tính cá nhân và các thiết bị đầu cuối thông minh khác.
Như vậy Ngân hàng Internet được coi là một trong những hình thức của ngân hàng điện tử. Xét theo nghĩa hẹp nhất, Ngân hàng Internet đã được coi là đại diện cho Ngân hàng điện tử. Trong một chừng mực nào đó, người ta còn có thể coi Ngân hàng điện tử là việc thực hiện các giao dịch Ngân hàng thông qua mạng Internet. Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa về Internet Banking.
Theo định nghĩa được hầu hết các ngân hàng thương mại tại Việt Nam sử dụng, Internet Banking được hiểu là một dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp cho khách hàng qua Internet để thực hiện việc truy vấn thông tin tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, mở tài khoản trực tuyến,…và nhiều tính năng khác trên website của Ngân hàng tại bất cứ điểm truy cập Internet nào và vào bất cứ thời điểm nào mà không cần phải đến các quầy giao dịch của ngân hàng. Đặc điểm của dịch vụ Internet Banking 1. Tính bảo mật – An ninh thông tin khi sử dụng Internet Banking Bảo mật thông tin là sự bảo vệ cẩn mật, toàn vẹn giá trị thông tin. Tính bảo mật – An toàn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Internet Banking.
Tính bảo mật được sử dụng trong E – Banking là sự kết hợp giữa công nghệ và tính chân thực của người sử dụng. Người sử dụng phải cung cấp một bộ đầy đủ câu trả lời và câu hỏi mà họ đã nhập trước đó cũng như tên truy cập và mật khẩu. Ngân hàng có trách nhiệm bảo mật những thông tin này cho khách hàng. Khách hàng chỉ SV: Vũ Thị Thùy Linh Lớp :CQ49/15.07 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Tài chính sử dụng các sản phẩm, dịch vụ qua Internet Banking khi họ thấy đủ tin tưởng vào những sản phẩm, dịch vụ.
Tính bảo mật – an toàn là yêu cầu bắt buộc. Mục đích là bảo vệ quyền lợi của khách hàng và chính ngân hàng. Tính hiệu quả cao Giao dịch qua mạng điện tử giúp giảm bớt các chi phí không cần thiết của ngân hàng như chi phí quản lý, chi phí phát triển mạng lưới chi nhánh. Đồng thời khách hàng cũng giảm được các chi phí có liên quan như: thanh toán, đi lại,.
Các ngân hàng trên thế giới đã và đang phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ qua Internet Banking. Thực tế đã cho thấy Internet Banking là một phương thức giao dịch mới đã đạt được thành công ở nhiều nước trên thế giới. Tính thuận tiện và nhanh chóng Khách hàng có thể thực hiện giao dịch 24/24 giờ trong ngày, bất kỳ thời điểm nào, với mọi khoảng cách không gian và thời gian một cách nhanh chóng. Khách hàng có thể truy cập vào tài khoản và tiến hành các giao dịch chuyển khoản, thanh toán hóa đơn (điện, nước, gas, điện thoại…), mua sắm hàng hóa và các dịch vụ ngân hàng khác 24/7 mà không phải đến trụ sở ngân hàng.
Các dịch vụ này giúp khách hàng tiết kiệm chi phí và thời gian. Có thể thấy rằng, tính thuận tiện và nhanh chóng của Internet Banking mang lại cho khách hàng, cho ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung rất nhiều lợi ích. Sự phụ thuộc vào công nghệ Dịch vụ Internet Banking được xây dựng trên nền tảng hệ thống công nghệ, điều này có thể dẫn tới rủi ro vận hành hệ thống mà các ngân hàng phải đối mặt. Nhờ có hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, khi tiến hành giao dịch trên, thời gian thực hiện các dịch vụ được rút ngắn.
Mức độ rủi ro cao Phụ thuộc vào hệ thống CNTT, một thay đổi nhanh chóng của hệ thống công nghệ là nguyên nhân gây ra các rủi ro chiến lược và rủi ro vận hành đối với các ngân hàng cung cấp dịch vụ Internet Banking. Những vấn đề trục trặc đối với hệ thống công nghệ có thể làm tăng các rủi ro mà các ngân hàng phải đối mặt. SV: Vũ Thị Thùy Linh Lớp :CQ49/15.07 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Tài chính 1. Các tiện ích của dịch vụ Internet Banking Hầu hết các ngân hàng cung cấp nhiều loại dịch vụ qua Internet.
Từ các thông tin ngân hàng, truy vấn tài khoản đến các giao dịch ngân hàng khác tùy thuộc vào khả năng và chiến lược của từng ngân hàng. Hiểu được tất cả các loại dịch vụ cung cấp trên Internet Banking giúp các ngân hàng phòng ngừa rủi ro và xây dựng các chính sách khách hàng khác nhau. Phân loại theo mức độ phức tạp của các dịch vụ: Hiện tại các dịch vụ Internet Banking trên thị trường có thể chia làm 3 loại: - Dịch vụ cung cấp thông tin: Đây là dịch vụ cơ bản của Internet Banking. Các ngân hàng sử dụng website để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng và cung cấp các thông tin như hệ thống mạng lưới chi nhánh, cơ cấu tổ chức, địa điểm đặt máy ATM, POS… Các ngân hàng nhỏ xây dựng các trang web chỉ để cung cấp thông tin tới khách hàng.
Hệ thống cung cấp thông tin không kết nối với cơ sở dữ liệu của ngân hàng, do vậy rủi ro đối với hệ thống ngân hàng là rất thấp. Dịch vụ Internet Banking ở mức độ này có thể được các ngân hàng cung cấp hay thuê ngoài. - Dịch vụ trao đổi thông tin tương tác: Ở cấp độ này, khách hàng có thể truy vấn số dư tài khoản, lịch sử giao dịch, thư điện tử… nhưng họ không thể thực hiện các giao dịch chuyển khoản hay thanh toán hóa đơn…Đối với các loại giao dịch này, các website của ngân hàng sẽ kết nối với hệ thống ngân hàng cốt lõi của ngân hàng, do đó rủi ro sẽ cao hơn so với rủi ro của các dịch vụ cung cấp thông tin. Cấp độ của các rủi ro khác nhau phụ thuộc vào mức độ kết nối giữa webserver và hệ thống ngân hàng cốt lõi, các thiết bị mà khách hàng truy cập.
Ngân hàng cần có những biện pháp kiểm soát và ngăn chặn việc kết nối bất hợp pháp vào hệ thống ngân hàng cốt lõi cũng như webserver. - Thực hiện giao dịch qua Internet Banking: Cấp độ này cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch ngân hàng trên tài khoản như truy vấn tài khoản, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn (điện, nước, viễn thông….), thực hiện các giao dịch tài chính, thông tin về các sản phẩm khác của ngân hàng để thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán…Ở cấp độ này, webserver phải kết nối với cơ sở dữ liệu SV: Vũ Thị Thùy Linh Lớp :CQ49/15.07 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện Tài chính của ngân hàng, rủi ro của cấp độ này so với các cấp độ trên là lớn nhất và các ngân hàng phải có các biện pháp quản lý rủi ro chặt chẽ thông qua các biện pháp bảo mật. Phân loại theo đối tượng khách hàng Internet Banking được chia thành các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cá nhân và các dịch vụ cung cấp cho khách hàng doanh nghiệp. Đối với các dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân: - Cung cấp các thông tin tài khoản: tiện tích này của Internet Banking áp dụng với nhiều loại tài khoản như tài khoản thanh toán, tài khoản tiết kiệm, tài khoản vay… Khách hàng có thể thu thập các thông tin về tài khoản như các giao dịch theo ngày, lịch sử giao dịch và sao kê tài khoản…Đối với các khoản tiền gửi, giải pháp hỗ trợ Internet Banking cho phép khách hàng xem được tổng số tiền gửi, chi tiết từng khoản tiền gửi (loại tiền gửi, hiện trạng, ngày gửi tiền, ngày đáo hạn, lãi suất…).