Chương 1: Đưa ra mục tiêu nghiên cứu, tóm tắt kết quả đạt được và đề ra cấu trúc chi tiết của luận văn. Chương 2: Trình bày các khái niệm cơ bản về Chính phủ điện tử, Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam. Chương 3: Trình bày về kiến trúc hướng dịch vụ và thành phần tầng kết nối trung gian giải quyết các vấn đề về kết nối giữa các hệ thống cũng như tái sử dụng, tận dụng hạ tầng sẵn có để hướng đến một hệ thống phần mềm kết nối xuyên suốt. Mục tiêu của chương này là đề ra các bước hiện thực hóa SOA cho Chính phủ điện tử Việt Nam.
Chương 4: Trình bày khảo sát một số quy trình nghiệp vụ thực tế tại các cơ quan Nhà Nước. Hiện thực hóa các quy trình này theo SOA để làm rõ các bước thực hiện. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Chương 2. Cơ sở lý thuyết về Chính phủ điện tử và Kiến trúc hướng dịch vụ 2.
Tổng quan về Chính phủ điện tử Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới [4]: Chính phủ điện tử là việc các cơ quan của Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống Công nghệ thông tin - viễn thông để thực hiện các dịch vụ hành chính công với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nhờ đó, giao dịch của các cơ quan Chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng. Chính phủ điện tử ra đời như một lẽ tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, vì để đáp ứng được các yêu cầu ngày một nhiều và khắt khe đến từ người dân, doanh nghiệp bắt buộc mỗi quốc gia phải xây dựng một hệ thống Công nghệ thông tin cho Chính phủ ngày một mạnh để đáp ứng được hết các yêu cầu. Mục tiêu lớn nhất của Chính phủ điện tử là giúp chuyển đổi dần cơ chế hoạt động của bộ máy cơ quan Chính phủ từ quản lý sang phục vụ mà ở đó đối tượng được phục vụ chính là người dân, doanh nghiệp và chính các cơ quan Chính phủ Việc áp dụng Công nghệ thông tin vào quản lý điều hành bộ máy các cơ quan Chính phủ sẽ giúp các hoạt động được rõ rang, nâng cao tính minh bạch, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp của cơ quan Chính phủ.
Để xây dựng và phát triển nên một hệ thống Chính phủ điện tử đủ tốt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như bộ máy tổ chức, hạ tầng kỹ thuật, con người và về các chính sách liên quan và đây thực sự là một bài toán lớn cần đầu tư nhiều thơi gian, công sức. Theo bảng xếp hạng năm 2014 của UNPASC (United Nations Public Administration Country Studies) về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử tại mỗi quốc gia thì chúng ta có thể thấy các nước phát triển đều rất chú trọng đầu tư cho Chính phủ điện tử như Hàn Quốc liên tục nâng cao thứ hạng trong những năm gần đây và trở thành quốc gia có chỉ số phát triển Chính phủ điện tử tốt nhất (xem bảng 2-1), hầu như mọi giao dịch giữa Chính phủ với người dân, doanh nghiệp đều qua hệ thống Công nghệ thông tin trực tuyến. Quốc gia Chỉ số phát triển Chính Tỷ lệ dịch vụ trực tuyến phủ điện tử (EGDI) Hàn Quốc 0.8938 100% LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Hà Lan 0. Bảng xếp hạng chỉ số phát triển Chính phủ điện tử [5] Cũng theo bảng xếp hạng trên Việt Nam hiện đang đứng thứ 99 với tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến nhỏ hơn 50%.
Chính phủ điện tử Việt Nam và sự hình thành Khung kiến trúc 2. Tình hình phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam Chính phủ điện tử Việt Nam đã và đang được xây dựng từng bước trên cơ sở kế thừa những thành công và khắc phục những thất bại của đề án lớn 112, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đến nay chúng ta cũng đã tạo ra được một số kết quả nhất định đáng ghi nhận. Mặt mạnh Đã tạo điều kiện triển khai ứng dụng Công nghệ thông tin; số lượng cán bộ, công chức được trang bị máy tính phục vụ công việc ngày càng tăng, đạt khoảng 90%; hệ thống mạng nội bộ (LAN) được triển khai tại tất cả các Bộ, ngành, địa phương; Mạng truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối các cơ quan nhà nước đến cấp quận, huyện. Các ứng dụng Công nghệ thông tin nội bộ trong cơ quan nhà nước được triển khai mạnh mẽ, gần 100% các cơ quan nhà nước đã trang bị hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống thư điện tử để trao đổi văn bản, điều hành qua mạng.
Tất cả các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có cổng hoặc trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến, hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 2; ngày càng nhiều dịch vụ công trực tuyến mức 3 được các cơ quan nhà nước cung cấp. Một số hệ thống thông tin chuyên ngành đã được triển khai và phát huy hiệu quả nổi bật, góp phần phát triển kinh tế, tiêu biểu như các hệ thống thuế, hải quan điện tử. Một số hạn chế Thiếu một kiến trúc chung định hướng cho giải pháp phần mềm trong Chính phủ điện tử, các ứng dụng Công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa kết nối, chia sẻ thông tin trên diện rộng. Các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao cung cấp cho người dân và doanh nghiệp còn chưa nhiều, các hệ thống thông tin chuyên ngành quy mô quốc gia, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử chậm được triển khai.
Các hệ thống đã được xây dựng còn thiếu kết nối, chia sẻ, trao đổi thông tin. Việc liên thông các hệ thống, các dịch vụ công chưa được coi trọng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Việc đầu tư Công nghệ thông tin đặc biệt về giải pháp phần mềm còn chưa được đồng bộ, nhiều khi có sự trùng lặp giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cấp bởi các giải pháp mang tính nhỏ lẻ, khó tái sử dụng. Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam Với mục đích xác định, thống nhất sơ đồ tổng thể Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử của Quốc gia.
Bộ thông tin truyền thông đã đưa ra Khung kiến trúc Chính phủ điện tử nhằm làm căn cứ cho các cơ quan nhà nước xác định vị trí, trách nhiệm của mình trong sự phát triển Chính phủ điện tử đồng bộ của Quốc gia. Sơ đồ tổng thể khung kiến trúc [1] Trên cơ sở Sơ đồ khung tổng thể được đưa ra, các cơ quan nhà nước, các bộ ban ngành, các tỉnh thành cũng có thể đưa ra các kế hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin theo lộ trình và trách nhiệm triển khai ở các cấp bảo đảm sự kết nối, chia sẻ, liên thông và sử dụng lại thông tin, cơ sở hạ tầng thông tin. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Khung kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ [1] Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam được đưa ra đã giúp cho các cơ quan Chính phủ có cùng một hướng nhìn về bài toán xây dựng Chính phủ điện tử Việt Nam, đây được xem như bước đầu tiên trong việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh. Về mặt hạ tầng kết nối đã khá đầy đủ, tuy nhiên phần mềm hiện chưa có một kiến trúc chung để hiện thực hóa khung kiến trúc, vì vậy cần đưa ra SOA cho phép dịch vụ hóa các ứng dụng (cũ, mới), đảm bảo tính liên thông, khả năng kết nối, khả năng mở rộng cũng như tái sử dụng của các phần mềm được xây dựng.
Mục tiêu của các giải pháp Chính phủ điện tử là thay đổi quan niệm của cơ quan nhà nước từ quản lý sang phục vụ người dân, giúp người dân và các cấp quản lý cùng nhau xây dựng một chính phủ vững mạnh, vì vậy để hiện thực hóa điều này ngoài khung kiến trúc cần chuẩn hóa lại các quy trình nghiệp vụ của các ứng dụng nội bộ cũng như dịch vụ công, đưa đến các dịch vụ tốt nhất đến mọi đối tượng công dân, BPM và BPMN là một công cụ phần mềm cho phép sự tham gia của cả người làm chuyên môn và giảm thiểu thời gian triển khai đi vào thực tiễn của các quy trình được đưa ra. Kiến trúc hướng dịch vụ và các thành phần liên quan 2. Kiến trúc hướng dịch vụ Trước khi nhắc đến kiến trúc hướng dịch vụ, chúng ta cần đề cập đến khái niệm về kiến trúc phần mềm, kiến trúc phần mềm là cấu trúc của hệ thống được tạo nên bởi các thành phần, các thuộc tính của tửng thành phần có thể thấy được từ bên ngoài, mối quan hệ giữa các thành phần. Việc thiết kế và xây dựng kiến trúc cho hệ thống các phần mềm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 thường theo hướng tiếp cận từ trên xuống, nó phụ thuộc nhiều vào tầm nhìn về kiến trúc hệ thống của tổ chức, cũng như phụ thuộc vào yêu cầu từ phía nghiệp vụ của tổ chức.
Như trong phương pháp luận về xây dựng kiến trúc tổng thể của TOGAF [6] cũng đã đưa ra các bước để tiến hành xây dựng một kiến trúc tổng thể cho hệ thống các phần mềm.3 Phương pháp luận TOGAF xây dựng kiến trúc tổng thể [6] Kiến trúc hướng dịch vụ (Service Oriented Architechture – gọi tắt là SOA) là một khái niệm về kiến trúc hệ thống phần mềm nhằm đem lại một cách thuận tiện nhất những chức năng nghiệp vụ, hoặc là những quy trình ứng dụng, tới người sử dụng dưới dạng các dịch vụ hoạt động trên môi trường mạng có khả năng chia sẻ và sử dụng lạị. Dịch vụ ở đây được hiểu là những phân hệ nghiệp vụ hoặc chức năng ứng dụng với giao diện được thiết kế theo quy định và được tương tác bằng cách gửi nhận thông điệp [7]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Khái quát kiến trúc hướng dịch vụ [7] Trong khi kiến trúc tổng thể (Enterprise Architecture – EA) là một phương pháp luận nhằm xác định, sắp xếp và điều chỉnh quy trình nghiệp vụ cho phù hợp với tầm nhìn, chiến lược và mục tiêu của một cơ quan, tổ chức, SOA như một mô hình mẫu kiến trúc chủ yếu được sử dụng trong thiết kế và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ cho những quy trình nghiệp vụ đã được nhận biết (trong kiến trúc tổng thể).