CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC CẠNH TRANH DỊCH VỤ THẺ TẠI NHTM 1. Ngân hàng thương mại và sức cạnh tranh của NHTM 1. Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm NHTM Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặt biệt là chính sách tiền tệ, do vậy ngân hàng là một kênh quan trọng trong chính sách của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế. Khái niệm Ngân hàng thương mại được tiếp cận trên nhiều phương diện (Nguyễn Minh Kiều, 2012). Căn cứ vào các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại. Điều 20 Luật Các Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”. “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Căn cứ vào các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, có thể định nghĩa: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Vai trò của NHTM Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Thực tế cho thấy, để phát triển kinh tế các đơn vị kinh tế cần phải có một lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác.
Nhưng điều khó khăn hơn lợi ích là cần có người đứng ra tập trung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn. Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua 5 hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2011). Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường.
Bước sang cơ chế thị trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân hàng đã làm biến đổi hoạt động ruỗng nát trong các nhà máy, xí nghiệp khơi dậy sức sống bằng các dây chuyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Điều không thể thực hiện bằng vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩ đã rất ít ỏi. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp. Một vấn đề luôn là mối lo thường trực của các doanh nghiệp.
Một khía cạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp. Đó là một ngân quỹ để dành cho việc đào tạo đội ngũ lao động phù hợp với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật - công nghệ cao. Đặc biệt trong điều kiện nước ta vẫn còn thiếu nhiều những chuyên gia đầu ngành, những cán bộ có năng lực và những công nhân lành nghề (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2011). Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh (NHTM). NHCT được Nhà nước cấp vốn cho hoạt động và sử dụng như công cụ để quản lý hoạt động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng thương mại trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2011). Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập 6 nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng Nhà nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2011).
Sức cạnh tranh của NHTM 1.1 Khái niệm cạnh tranh Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trườngViệt Nam hiện nay, các khái niệm liên quan đến cạnh trạnh còn rất khác nhau. Theo Mác “Cạnh tranh là sự phấn đấu ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”, có các quan niệm khác lại cho rằng “Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác” (Theo nhóm tác giả cuốn “Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước”). Theo kinh tế chính trị học “cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trường, khách hàng cho doanh nghiệp mình” (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2010). Cạnh tranh là xu hướng tất yếu của bất cứ loại hình sản xuất hay dịch vụ nào.
Đó là sự ganh đua giữa các đối thủ để giành giật thị trường, giành lấy các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận cao nhất có thể (Trần Huy Hoàng, 2007). Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu và diễn giải về cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng như sau: Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng được hiểu là sự ganh đua giữa các NHTM, nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong quá trình xây dựng và đưa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ra thị trường với mục đích cuối cùng là giành lấy thị trường và mang lại lợi ích tối đa cho các chủ sở hữu của NHTM. Xét trên khía cạnh hẹp hơn của cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng, là khái niệm cạnh tranh trong dịch vụ thẻ của ngân hàng: Được hiểu là sự ganh đua của các NHTM trong quá trình xây dựng các sản phẩm dịch vụ thẻ với chất lượng tốt và tiện 7 ích tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh, đi cùng với nó là hoạt động Marketing phù hợp với từng sản phẩm dịch vụ thẻ nhằm mục đích cuối cùng là lôi kéo các khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ thẻ của mình, giành lấy thị trường và mang lại lợi ích cao nhất cho ngân hàng. Tóm lại, cạnh tranh trong dịch vụ thẻ giữa các ngân hàng là sự ganh đua trong việc xây dựng, thiết kế các sản phẩm thẻ và trong hoạt động Marketing nhằm đưa sản phẩm, thương hiệu của ngân hàng đến người tiêu dùng với mục đích cuối cùng là lợi ích của ngân hàng.
Cũng như sự cạnh tranh trong các lĩnh vực khác, cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân hàng có tính chất quyết định sống còn đối với sự phát triển của NHTM trong tương lai (Vũ Văn Phúc, 2012). Các đặc điểm của cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân hàng: Cạnh tranh trong dịch vụ thẻ ngân hàng cũng chứa đựng sự gay gắt, khắc nghiệt như cạnh tranh trong các lĩnh vực khác, tuy nhiên nó cũng mang một số đặc điểm khác biệt sau: Thứ nhất: là một loại hình dịch vụ cho nên nó có đặc tính là rất khó đo lường bằng các tiêu chí định lượng cụ thể. Giống như các loại hình dịch vụ nói chung, dịch vụ thẻ ngân hàng chịu sự chi phối sâu sắc bởi tính tiện ích mang lại cho khách hàng. Bởi vì không giống như các hàng hoá vật chất khác, người tiêu dùng có thể ngay lập tức đánh giá được chất lượng sản phẩm, đối với dịch vụ thẻ ngân hàng chỉ khi khách hàng tiêu dùng dịch vụ rồi thì mới thấy được các tiện ích của dịch vụ mà thôi.
Điều này cũng gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc xây dựng chiến lược quảng cáo tiếp thị sản phẩm thẻ. Công việc này đòi hỏi phải làm sao cho khách hàng hiểu và tin tưởng vào những tiện ích của thẻ cho dù chưa được sử dụng bao giờ. Các ngân hàng muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì không có cách gì khác và phải trước nhất là tạo cho sản phẩm thẻ của mình càng nhiều tính năng càng tốt. Thứ hai: là một sản phẩm công nghệ hiện đại cho nên cạnh tranh trên dịch vụ thẻ ngân hàng cũng mang tính hơi hướng công nghệ cao.
Các ngân hàng luôn phải cố gắng nỗ lực đổi mới công nghệ.