mở đầu cho một quá trình mua lại, sát nhập, hoặc thay thế ban quản trị của ngân hàng. Đối với nền kinh tế, rủi ro khiến cho các cổ đông mất vốn, người gửi tiết kiệm mất tiền, từ đó phá vỡ tính ổn định của thị trường tài chính. Mỗi loại rủi ro lại gây ra những tổn thất khác nhau cho ngân hàng, và có thể khi một rủi ro xảy ra lại kéo theo nhiều rủi ro khác xuất hiện, khiến cho tình hình của ngân hàng càng trầm trọng hơn. Rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với việc hàng loạt người gửi tiền rút tiền ra khỏi ngân hàng, buộc ngân 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản.
Chính vì vậy, việc quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng là vô cùng cần thiết. Một khi ngân hàng xây dựng được cho mình một chiến lược quản trị rủi ro tốt, cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng đó sẽ hạn chế được rủi ro, và tối thiểu hóa tổn thất trong trường hợp rủi ro xảy ra. Khái quát chung về công tác quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng Quản trị rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng theo nghĩa rộng hàm nghĩa rằng mỗi ngân hàng cần phát huy, sử dụng các nguồn lực của chính mình để đề phòng và chuẩn bị cho những rủi ro hơn là chờ đợi sự biến động rồi mới tìm cách đối phó lại. Quản trị rủi ro là hành động chủ động trong hiện tại để bảo vệ trong tương lai.
Có nhiều định nghĩa về quản trị rủi ro nhưng theo cách hiểu phổ biến và tương đối đầy đủ thì “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, phòng ngừa và tài trợ rủi ro”. Chức năng chủ yếu của quản trị rủi ro là nhận diện, đo lường và quan trọng hơn cả là giám sát rủi ro. Để thực hiện tốt các chức năng đó, công tác quản trị rủi ro bao gồm bốn bước: nhận dạng rủi ro; phân tích, đo lường rủi ro; kiểm soát, phòng phòng ngừa và tài trợ rủi ro. Sơ đồ nội dung quản trị rủi ro (Nguồn: slide bài giảng quản trị rủi ro TS.
Phùng Thế Đông) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhận dạng rủi ro Điều kiện tiên quyết để quản trị rủi ro là phải nhận dạng được rủi ro. Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng; bao gồm: việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những loại rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có các biện pháp kiểm soát, tài trợ cho từng loại rủi ro phù hợp. Một số phương pháp nhận dạng rủi ro phổ biến: - Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra; - Phân tích các báo cáo tài chính; - Phương pháp lưu đồ; - Thanh tra hiện trường; - Phân tích các hợp đồng; 1.
Phân tích, đo lường rủi ro Phân tích rủi ro: đây chính là việc tìm ra nguyên nhân gây ra rủi ro. Phân tích rủi ro nhằm đề ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro. Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân làm thay đổi chúng, qua đó sẽ phòng ngừa rủi ro một cách hiệu quả hơn. Đây là một công việc phức tạp bởi không phải mỗi rủi ro chỉ là do một nguyên nhân đơn nhất gây ra mà thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân bên khách quan, nguyên nhân chủ quan,… Đo lường rủi ro: để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng, người ta đánh giá dựa trên hai tiêu chí: tần suất xuất hiện của rủi ro (số lần xảy ra tổn thất hay khả năng xảy ra biến cố nguy hiểm đối với ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định) và mức độ nghiêm trọng của rủi ro (đo bằng những tổn thất, mất mát, nguy hiểm), trong đó mức độ tổn thất đóng vai trò quyết định.
Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập ma trận đo lường rủi ro như dưới đây: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ma trận đo lường rủi ro (Nguồn: slide bài giảng quản trị rủi ro TS. Phùng Thế Đông) Sau khi đo lường, phân loại các rủi ro sẽ tập trung quản trị trước hết những rủi ro thuộc nhóm I (là nhóm các rủi ro có mức độ tổn thất cao, tần suất xảy ra lớn), sau đó theo thức tự mới đến những rủi ro nhóm II, III và sau cùng là những rủi ro thuộc nhóm IV (nhóm các rủi ro hiếm khi xảy ra và nếu có xảy ra cũng để lại tổn thất không đáng kể). Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro.
Đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra đối với ngân hàng. Các biện pháp kiểm soát rủi ro có thể là: - Các biện pháp né tránh rủi ro: là việc né tránh những hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh mất mát, tổn thất. - Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: là các biện pháp giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại. - Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: để giảm thiểu những thiệt hại khi rủi ro đã xảy ra như cứu vớt tài sản còn sử dụng được, chuyển nợ,… - Các biện pháp đa dạng rủi ro: phòng chống rủi ro bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, đa dạng hóa danh mục khách hàng và phân khúc thị trường.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tài trợ rủi ro Mặc dù, đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra. Khi đó, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lý. Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp.
Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: tự khắc phục (ngân hàng tự mình thanh toán các tổn thất) và chuyển giao rủi ro (ký các hợp đồng bảo hiểm để nhận được bồi thường khi rủi ro xảy ra). Thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong hoạt động Ngân hàng 1. Khái niệm Thanh khoản Góc độ ngân hàng: Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Dưới góc độ nguồn vốn: Để tạo lập nên các tài sản, ngân hàng tiến hành huy động vốn, trong đó có các tài sản có tính thanh khoản cao.
Ngân hàng huy động càng nhiều thì khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao. Tuy nhiên, tính thanh khoản của nguồn vốn cũng được đo bằng thời gian và chi phí khi cần thiết phải mở rộng nguồn vốn. Cũng như tài sản, thanh khoản của nguồn vốn càng cao khi thời gian và chi phí càng thấp. Dưới góc độ tài sản: Thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản và được đo bằng thời gian và chi phí, trong đó chi phí được hiểu là tổn thất của tài sản trong việc chuyển đổi thành tiền.
Tính thanh khoản của tài sản càng cao khi thời gian và chi phí càng thấp và ngược lại. Như vậy những tài sản thanh khoản là những tài sản đáp ứng được cả hai yêu cầu về thời gian ngắn và chi phí thấp. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008), thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức. Như vậy, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng.
Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gian chuyển đổi thành tiền nhanh, trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Khái niệm rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Đến nay khi nghiên cứu về thanh khoản, đã có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro thanh khoản.
Theo tác giả cuốn sách Commercial Banking – The Management of Risk, Benton E.Gup thì: “Rủi ro thanh khoản là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu hụt tiền mặt hoặc tài sản tương đương tiền, hay đặc biệt hơn là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu khả năng thu xếp được nguồn tài trợ với mức độ hợp lý về chi phí, bán hay thu xếp một tài sản với mức giá hợp lý, nhằm trang trải một nghĩa vụ đã được dự định hoặc bất định”. Một tác giả nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng - Leonard Matz đưa ra ý kiến “Rủi ro thanh khoản là rủi ro không có khả năng huy động được nguồn thanh khoản hoặc nếu huy động nguồn thanh khoản thì ở chi phí cao. Rủi ro thanh khoản được phát sinh từ Bảng cân đối kế toán khi có sự mất cân đối giữa quy mô và thời gian đáo hạn của các tài sản có và tài sản nợ”. Tại Việt Nam, tác giả cuốn sách Quản trị Ngân hàng Thương mại, Phan Thị Cúc cho rằng: “Đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp các ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền, hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán”.