CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh là Credo (tin tưởng – tín nhiệm). Nhưng trong quan hệ tài chính hoặc cuộc sống, tùy theo góc độ nhìn nhận của mỗi người mà tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: (1) Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng; (2) Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời; (3) Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. Nghiệp vụ tín dụng luôn chứa đựng rủi ro, và khi rủi ro xảy ra gây tổn thất nghiêm trọng về tài sản hàng ngàn tỷ đồng, con người và đặc biệt là uy tín của ngành ngân hàng trong nền kinh tế. Những rủi ro tín dụng xảy ra trong giai đoạn vừa qua cho dù có xuất phát từ những nguyên nhân khách quan hay chủ quan đều phản ánh rõ nét những yếu kém trong công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM. Những biện pháp nhằm ngăn ngừa, quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng chưa được các ngân hàng đưa ra và thực hiện một cách đầy đủ, triệt để, đặc biệt là các biện pháp liên quan đến con người.
Quản lý rủi ro tín dụng là một quá trình liên tục từ đầu đến cuối trong công tác phòng chống, xử lý rủi ro trong thời gian hoạt động tín dụng của các NHTM. Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động tín dụng của ngân hàng không phải gánh chịu những rủi ro hoặc hạn chế những rủi ro mà lẽ ra ngân hàng phải gánh chịu. Hạn chế rủi ro tín dụng sẽ giúp các NHTM đảm bảo an toàn vốn, lãi, các thu nhập không bị giảm sút, giúp phát triển hoạt động SV: Nguyễn Văn Từ Lớp: CQ49/15.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa Luận Tốt Nghiệp 5 Học Viện Tài Chính tín dụng và từ đó góp phần tạo đà tăng trưởng cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Ngoài ra, việc quản lý hạn chế được rủi ro tín dụng cũng sẽ tạo được uy tín đối với người dân, các doanh nghiệp và các nhà đầu tư, giúp các ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng hơn nữa, đóng góp tích cực vào kết quả kinh doanh nói chung của ngân hàng.
Nhà quản lý phải nhận thức được rủi ro tín dụng phát sinh từ khi nào, có thể là do: phân khúc thị trường mục tiêu; tiếp cận và khai thác thông tin khách hàng; xác định nhu cầu khách hàng; thẩm định; đề xuất giải pháp; lập hợp đồng, hồ sơ tín dụng và nhận TSĐB; giải ngân và quản lý khoản vay sau giải ngân để từ đó xác định nhân viên nào chịu trách nhiệm về rủi ro phát sinh nhằm hạn chế tối đa và khắc phục triệt để.1 Nội dung của quản lý rủi ro tín dụng 1.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bản thân nó thường ẩn chứa trong các khoản vay có vấn đề, nó diễn biến và thể hiện ra một cách đa dạng và phức tạp. Dấu hiệu rủi ro của khoản tín dụng được sắp xếp theo các nhóm sau: - Nhóm 1: Các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ giữa người vay vốn với ngân hàng. Dấu hiệu của rủi ro thể hiện ở chỗ mối quan hệ giữa người vay và ngân hàng có chiều hướng sút giảm. Sự hợp tác giữa cán bộ ngân hàng và người vay không còn gắn bó.
Điều này báo hiệu một sự suy thoát về hoạt động kinh doanh của người vay. - Nhóm 2: Các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý doanh nghiệp của khách hàng. Cụ thể: thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành; hệ thống quản trị hoặc ban điều hành bất đồng về mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán; cách thức hoạch định chiến lược của khách hàng thiếu khoa học; quản lý có tính gia đình; có tranh chấp trong quá trình quản lý; các chi phí quản lý bất hợp lý… - Nhóm 3: Các dấu hiệu liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh. Cụ thể, (i) Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: khách hàng bị ấn tượng bởi một khách hàng có SV: Nguyễn Văn Từ Lớp: CQ49/15.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa Luận Tốt Nghiệp 6 Học Viện Tài Chính tên tuổi mà sau này có thể trở nên lệ thuộc, Ban Giám đốc cắt giảm lợi nhuận nhằm đạt được hợp đồng lớn; (ii) Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: không đúng lúc hoặc bị ám ảnh bởi một sản phẩm mà không chú ý đến các yếu tố khác; (iii) Sự cấp bách không thích hợp như do áp lực nội bộ dẫn tới việc tung sản phẩm dịch vụ ra quá sớm; các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra không thực tế; tạo mong đợi trên thị trường không đúng lúc.
- Nhóm 4: Các dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật về thương mại, biểu hiện: khó khăn trong phát triển sản phẩm; thay đổi trên thị trường (tỷ giá, lãi suất), thay đổi thị hiếu, cập nhật kỹ thuật mới, mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn, thêm đối thủ cạnh tranh; những thay đổi từ chính sách của Nhà nước, đặc biệt chú ý sự tác động của các chính sách thuế, điều kiện thành lập và hoạt động; sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao… - Nhóm 5: Các dấu hiệu về xử lý thông tin về tài chính, kế toán. Cụ thể: chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính; các dấu hiệu phi tài chính khác như những vấn đề về đạo đức, sự xuống cấp nghiêm trọng của nơi kinh doanh hay nơi lưu giữ hàng hóa quá nhiều, hư hỏng và lạc hậu. Trong tất cả các dấu hiệu trên, dấu hiệu rõ ràng nhất và có ý nghĩa nhất là khách hàng chậm thanh toán khoản gốc và lãi vay.2 Đo lường rủi ro tín dụng Theo mô hình các chỉ tiêu rủi ro chính - Tốc độ tăng trưởng tín dụng; - Dư nợ tín dụng/Tổng tài sản; - Tỷ lệ nợ xấu: Tổng dư nợ xấu/Tổng dư nợ; - Tỷ lệ nợ quá hạn: Tổng dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ; - Khả năng bù đắp rủi ro: (VCSH + DPRR)/Tổng dư nợ xấu; - Cơ cấu danh mục cho vay: Tỷ trọng dư nợ cho vay theo ngành nghề; - Tỷ trọng cho vay theo lĩnh vực nhạy cảm: Dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán, dư nợ cho vay bất động sản; - Tỷ trọng dư nợ cho vay 20 khách hàng lớn nhất/Tổng dư nợ; SV: Nguyễn Văn Từ Lớp: CQ49/15.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa Luận Tốt Nghiệp 7 Học Viện Tài Chính - Tỷ trọng cho vay, bảo lãnh của 1 khách hàng lớn/Vốn tự có; - Tỷ trọng cho vay 1 nhóm khách hàng liên quan/Vốn tự có. Theo mô hình toán tổn thất dự kiến (Expected Loss/VAR) - Tổn thất dự kiến EL = EAD x PD x LGD Trong đó: EL = Expected Loss (Tổn thất dự kiến) EAD = Exposure at Default (Dư nợ có rủi ro) PD = Probability of Default (Xác suất xảy ra rủi ro) LGD = Loss Given Default (Tỷ lệ tổn thất khi khách hàng không trả được nợ) Tổn thất dự kiến thể hiện tổn thất tín dụng bình quân của ngân hàng.
Việc định giá tiền vay của ngân hàng phải đủ để bù đắp tổn thất tín dụng bình quân này. - VAR (Value at Risk): Giá trị rủi ro là số tiền tối đa có thể tổn thất của một danh mục trong một giai đoạn nhất định với một độ tin cậy nhất định. Mục đích của quản lý rủi ro tín dụng - Nhằm nhận diện, đo lường và kiểm soát rủi ro, cho phép NHTM đạt được tương quan hợp lý giữa rủi ro và lợi ích nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích thu được, xứng đáng với mức rủi ro mà ngân hàng chấp nhận, thông qua nhiều cách như chấp nhận, giảm nhẹ, loại bỏ hay chuyển đổi rủi ro; - Nhằm bảo đảm NHTM hoạt động tốt trên cơ sở mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng tài chính của ngân hàng, đảm bảo các tài sản và công nợ, vị trí trong kinh doanh, các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng không phải gánh chịu những rủi ro có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của ngân hàng. Phương pháp quản lý rủi ro tín dụng Vấn đề cấp bách hiện nay trong quản trị điều hành hoạt động kinh doanh ngân hàng là làm sao để đảm bảo an toàn tín dụng, cải thiện tình hình tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM.
SV: Nguyễn Văn Từ Lớp: CQ49/15.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa Luận Tốt Nghiệp 8 Học Viện Tài Chính 1. Phương pháp quản lý rủi ro bằng cách nâng cao chất lượng tín dụng Phương pháp này được thực hiện chủ yếu thông qua việc phân tích thẩm định kỹ lưỡng các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính của người vay và áp dụng thủ tục cấp tín dụng chặt chẽ trước khi đầu tư nhằm phân loại khoản vay và các đối tác vay vốn dựa vào mức độ rủi ro tín dụng của nó để quản lý. Phương pháp quản lý rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro Tổ chức tín dụng trích lập ra một khoản dự phòng nhằm bù đắp cho những rủi ro có thể xảy ra, căn cứ vào mức độ rủi ro của các tài sản có. Phương pháp quản lý rủi ro bằng cách bảo hiểm rủi ro tín dụng NHTM yêu cầu người vay phải có một khoản chi phí phụ thêm cho việc mua bảo hiểm nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp trong trường hợp phá sản.
Chất lượng tín dụng càng cao thì tỷ lệ bảo hiểm rủi ro tín dụng càng thấp. Khi rủi ro tín dụng của một doanh nghiệp tăng lên, các NHTM sẽ yêu cầu tỷ lệ bảo hiểm tín dụng cao hơn. Việc tăng lên các khoản bảo hiểm này là cần thiết để bù đắp cho mất mát dự kiến cao hơn về khoản vay vì khả năng khoản vay sẽ không được hoàn trả. Kết quả là mức độ thấp về chất lượng tín dụng có thể làm tăng chi phí vay của nó.