CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG 1.1 Chất lượng công trình xây dựng 1.1 Công trình xây dựng Công trình xây dựng là một sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết định vị với nền đất, bao gồm phần trên và dưới mặt đất (phần ngầm)được xây dựng theo thiết kế đã được phê duyệt. Công trình xây dựng gồm có công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, hạ tầng, nông nghiệp và phát triển nông thôn, thủy điện, năng lượng và các công trình khác.2 Vai trò của ngành xây dựng trong phát triển kinh tế xã hội Công nghiệp xây dựng là một ngành sản xuất hàng hoá đầu tư, có nghĩa là các sản phẩm mới của nó được yêu cầu, không phải vì bản thân của các sản phẩm này mà vì các hàng hoá hoặc dịch vụ mà các sản phẩm này có thể tạo ra hoặc giúp cho tạo ra. Ngành công nghiệp xây dựng giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân bởi ba đặc thù chính là: ngành xây dựng có quy mô lớn nhất trong đất nước, ngành cung cấp phần lớn các hàng hoá đầu tư và Chính phủ là khách hàng của phần lớn các công trình của ngành. Ở nước ta, công nghiệp xây dựng là ngành sản xuất vật chất lớn nhất của nền kinh tế quốc dân, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội.
Hàng năm xây dựng cơ bản tiêu tốn lượng vốn ngân sách và vốn đầu tư khác với tỷ lệ cao (giai đoạn 15 năm đổi mởi 1985– 2000 vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm khoảng 25%÷26% GDP hàng năm. Trong khi đó tỷ trọng sản phẩm xây dựng trong tổng sản phẩm quốc nội của một số nước theo thống kê năm 1989 là: các nước EU: 12,3%; CHLB Đức: 11,0%; Pháp: 11,4%; Anh: 10,1%; Mỹ: 8,7%; Canada 14,9%; Nhật: 19,3%). Xây dựng cơ bản giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Bởi vì: Xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, năng lực phục vụ cho các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.
Tất cả các ngành 5 kinh tế khác chỉ có thể phát triển được nhờ có xây dựng cơ bản, thực hiện xây dựng mới, nâng cấp các công trình về quy mô, đổi mới về công nghệ và kỹ thuật để nâng cao năng xuất và hiệu quả sản xuất; Xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo mối quan hệ tỷ lệ, cân đối, hợp lý sức sản xuất cho sự phát triển kinh tế giữa các ngành, các khu vực, các vùng kinh tế trong từng giai đoạn xây dụng và phát triển kinh tế của đất nước. Tạo điều kiện xoá bỏ dần sự cách biệt giữa thành thị, nông thôn, miền ngược, miền xuôi. Nâng cao trình độ mọi mặt cho đồng bào các dân tộc; Xây dựng cơ bản tạo điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động xã hội, dân sinh, quốc phòng thông qua việc đầu tư xây dựng các công trình xã hội, dịch vụ cơ sở hạ tầng ngày càng đạt trình độ cao. Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân trong xã hội; Xây dựng cơ bản đóng góp đáng kể lợi nhuận cho nền kinh tế quốc dân.
Hàng nãm Ngành xây dựng đóng góp cho ngân sách nhà nước hàng nghìn tỷ đồng. Giải quyết công ăn việc làm cho một lực lượng lớn lao động. Đội ngũ cán bộ cồng nhân viên Ngành xây đựng đông đảo có khoảng hai triệu người, chiếm khoảng 6% lao động trong xã hội. Như vậy, ngành xây dựng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Nó quyết định quy mô và trình độ kỹ thuật của xã hội của đất nước nói chung và sự nghiêp công nghiệp hoá hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay nói riêng. Và cũng có thể kết luận rằng ngành xây dựng là một công cụ điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế đối với mỗi quốc gia [1].3 Chất lượng công trình xây dựng Nói đến chất lượng công trình CLCT xây dựng, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng, CLCT xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: Công năng, tuân thủ các tiêu chuẩn về kỹ thuật, độ bền vững, tuổi thọ, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo mục đích sử dụng công trình [2], [3]. 6 Hay nói cách khác, CLCT xây dựng là một quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề liên quan khác. Một số vấn đề cơ bản liên quan đến CLCT xây dựng là: CLCT xây dựng cần quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về mục đích đầu tư xây dựng công trình, từ khi xin chủ trương đầu tư, lập quy hoạch, lập dự án, đến khâu khảo sát thiết kế và thi công xây dựng cho đến khi kết thúc dự án xong đưa công trình vào khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời gian sử dụng.
CLCT xây dựng được thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng dự án ĐTXD công trình, chất lượng khảo sát và chất lượng về các bản vẽ thiết kế kỹ thuật công trình, chất lượng thi công xây dựng công trình và chất lượng quản lý, vận hành và duy tu bảo trì công trình; CLCT phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu đầu vào, cấu kiện và chất lượng công việc xây dựng các hạng mục, bộ phận cấu thành công trình và tuân thủ quy trình thực hiện thi công tạo ra các sản phẩm xây dựng; Các tiêu trí, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng không chỉ thể hiện ở việc lấy mẫu, thiết kế mẫu, kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu và máy móc thiết bị đưa vào sử dụng tại công trình mà còn thực hiện ở các bước như công nghệ thi công, chất lượng các công việc và đội ngũ công nhân, kỹ thuật, kỹ sư lao động trong quá trình diễn ra các hoạt động xây dựng; Chất lượng công trình thi công xây dựng luôn luôn gắn liền với an toàn công trình, an toàn trong quá trình quản lý, khai thác và sử dụng mà nó phải đảm bảo an toàn trong quá trình thi công xây dựng đối với bản thân công trình, với đội ngũ công nhân, kỹ sư cùng các trang thiết bị trong khu vực xây dựng công trình; Thời gian xây dựng không chỉ thể hiện ở thời hạn hoàn thành toàn bộ các hạng mục công trình để đưa vào khai thác, sử dụng mà còn thể hiện ở việc đáp ứng theo tiến độ đã được ký kết; Giá trị xây dựng không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình do chủ đầu tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà đầu tư thực hiện 7 các hoạt động dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng,.Ngoài ra, CLCT xây dựng cần chú ý đến yếu tố môi trường trong quá trình hình thành dự án. Tóm lại: CLCT xây dựng là đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong điều kiện nhất định. Nó thể hiện sự phù hợp về quy hoạch đạt được độ tin cậy từ khâu thiết kế đến thi công xây dựng công trình, vận hành theo tiêu chuẩn, quy định đã định trước và nó có tính xã hội, thẩm mỹ, hiệu quả đầu tư. Đặc biệt, nó thể hiện được tính đồng bộ trong công trình và thời gian thi công xây dựng đúng tiến độ.
Chất lượng sản phẩm xây dựngtác động trực tiếp đến phát triển kinh tế toàn xã hội và đời sống con người. Đặc biệt, ở nước ta hiện nay nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu nhập nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, để quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng trên phạm vi toàn quốc, các cơ quan quản lý Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn, các tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy phạm về xây dựng cơ bản nhằm chuẩn hóa pháp lý về chất lượng, quy trình tạo rasản phẩm xây dựng. Chủ đầu tư hoặcBan quản lý dự án, các tổ chức tư vấn (khảo sát, thiết kế, thẩm định, giám sát) và nhà thầu thi công xây dựng là 3 chủ thể trực tiếp quyết định chất lượng sản phẩm xây dựng.
Công trình nào có 3 chủ thể có trình độ, năng lực chuyên môn tốt đểquản lý về xây dựng cơ bản, tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành của nhà nước về quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng và thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng kinh tế, đặc biệt trong trường hợp các tổ chức này độc lập, chuyên nghiệp cao thì tại đó chất lượng sản phẩm xây dựng rất tốt và ngược lại. Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án là đơn vị chủ động về nguồn vốn bỏ ra để đặt hàng công trình xây dựng - họ là chủ thể đưa ra các yêu cầu về kỹ, mỹ thuật, chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình thực hiện từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đến giai đoạn triển khai thi công xây dựng vận hành bảo trì. Vì vậy, họ là chủ thể đặc biệt quan trọng đểquyết định về chất lượng công trình xây dựng. Đối với dự án xây dựng công trình có vốn của các chủ thể làtư nhân hoặc vốn nước ngoài thì các công trình xây dựng thường có chất lượng tốt do công tácquản lý chất 8 lượng được quan tâm ngay từ khi thực hiện quá trình thẩm định, duyệt hồ sơ thiết kế đến thi công xây dựng, bảo trì và nhanh chóng ra các quyết định kịp thời để đảm bảo chất lượng cho công trình xây dựng.
Trừ một số công trình nhỏ thì họ tự quản lý, còn lại đa số các dự án họ đều thuê tổ chức tư vấn chuyên nghiệp để thực hiện công tác quản lý chất lượng công trình trong suốt thời gian thực hiện dự án. Trong trường hợp vốn đầu tư là nguồn vốn của Nhà nước thì chủ đầu tư là ai? Các chủ đầu tư hiện nay không phải là chủ thể bỏ tiền vốn ra đầu tư mà thực chất là do Nhà nước uỷ nhiệm để quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình, họ được thành lập thông qua các quyết định hành chính.