CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) bắt đầu xuất hiện từ những năm 1920 tại Hoa Kỳ, tuy nhiên, do cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1939) và Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), vấn đề CSR đã không còn được chú ý. Cho đến những năm 1950, khái niệm CSR được đề cập trở lại trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của Doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) của học giả Howard Bowen. Trong cuốn sách này, Bowen (1953) định nghĩa “CSR là nghĩa vụ của doanh nhân để theo đuổi các chính sách, đưa ra các quyết định, hoặc thực hiện chuỗi các hoạt động được xã hội mong đợi cả về mục tiêu và giá trị nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến quyền và lợi ích của người khác”. Votaw (1972) có nhận định rằng trách nhiệm trong CSR có nghĩa là tổ chức có trách nhiệm tại địa phương, nơi đang hoạt động, tuy nhiên thuật ngữ này không hoàn toàn giống nhau cho các tổ chức khác nhau.
Mô hình cổ điển của Milton Friedman (1970) cho rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tăng tối đa lợi nhuận của họ trong phạm vi của luật pháp và các ràng buộc đạo đức tối thiểu”. Tiếp theo, Steiner (1971), cho rằng “trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu nhưng nó vẫn phải có trách nhiệm đối với xã hội để giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu cơ bản. Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp thường sử dụng một phần lợi nhuận ngắn hạn hoặc dài hạn để duy trì hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội”. Trong khi đó, Johnson (1971) cho rằng “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một trong những hoạt động mà các nhà quản lý hướng tới thay vì chỉ phấn đấu để đem lại lợi ích cho các cổ đông, doanh nghiệp còn có trách nhiệm tính đến lợi ích của nhân viên, nhà cung cấp, đại lý, cộng đồng địa phương và toàn quốc” … 7 Carroll (1979) định nghĩa: "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm kinh tế, pháp lý, đạo đức, và sự mong đợi của xã hội dành cho các tổ chức tại một thời điểm nhất định”.
Lưu ý rằng kinh tế và pháp lý là nghĩa vụ và trách nhiệm bắt buộc trong khi các nghĩa vụ về đạo đức và những sự mong đợi khác thì do sự tự nguyện của con người. Không dừng lại ở đó, lý thuyết các bên liên quan đã được phát triển trong khái niệm trách nhiệm xã hội (Freeman 1984, Donaldson và Preston 1995). Theo đó, phạm vi của CSR không chỉ bao gồm bốn khía cạnh mà được mở rộng đến các đối tượng hữu quan (stakeholder). Đến năm 2004, Maignan và Ferrell tiếp tục cho rằng CSR là “các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan”.
Theo như Matten và Moon (2004): “Trách nhiệm xã hội là một khái niệm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”. Ngân hàng Thế giới (2004) phát biểu rằng “CSR là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, phối hợp với người lao động, gia đình của họ, cộng đồng địa phương và xã hội nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống theo hướng có lợi cho việc kinh doanh cũng như sự phát triển chung”. Đây cũng là cam kết của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực và tối đa hóa lợi ích tác động đến xã hội (Mohr, Webb và Harris, 2001).
CSR liên quan đến những quyết định và hành động được thực hiện mà ít nhất cũng vượt trên những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, là những nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội (Carroll & Shabana, 2010). CSR ngày càng được đề cao cũng như dành được sự quan tâm của cộng đồng tại nhiều quốc gia và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung này (Korhonen, 2003). Một cách cụ thể, biểu hiện về trách nhiệm xã hội của tổ chức được thể hiện qua các vấn đề sau: cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao cho người 8 tiêu dùng; tạo môi trường làm việc an toàn, trả lương theo quy định, đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực; tuân thủ các yêu cầu về lập pháp (tài chính, lao động, môi trường…); xây dựng mối quan hệ tin cậy và chính xác với tất cả các bên liên quan; cải thiện hoạt động của tổ chức nhằm nâng cao giá trị tổ chức; xem xét những mong đợi của công chúng và những giá trị đạo đức được chấp nhận rộng rãi trong các hoạt động của tổ chức; đóng góp vào xã hội thông qua hợp tác và các dự án phát triển cộng đồng địa phương…Mục tiêu chính của CSR là nhằm đảm bảo tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu đã đề ra với định hướng bền vững trong một thời gian dài để tiến hành hoạt động kinh doanh (Jamali, 2008).2 Đạo đức kinh doanh Trong một tổ chức, quy tắc đạo đức là một tập hợp các nguyên tắc hướng dẫn tổ chức trong các chương trình, chính sách và quyết định của nó đối với việc kinh doanh. Triết lý đạo đức mà tổ chức sử dụng để tiến hành hoạt động có tác động mạnh mẽ đến uy tín, năng suất và lợi nhuận cuối cùng của tổ chức.
Đạo đức kinh doanh hình thành từ thực tiễn kinh doanh của mỗi tổ chức trong các thời kỳ lịch sử. Các chuẩn mực đạo đức kinh doanh cũng thay đổi và phát triển theo từng hình thái kinh tế, nhân khẩu học, đặc điểm địa phương. Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực của một tổ chức trong những trường hợp nhất định. Cách thức đánh giá đạo đức kinh doanh của một tổ chức được cụ thể hơn thông qua định nghĩa của Ferrel và Fraedrich (2008): “Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh.
Việc đánh giá một hành vi cụ thể là đúng hay sai, phù hợp với đạo đức hay không sẽ được quyết định bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống pháp lý cũng như cộng đồng”. Nếu trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ mà tổ chức phải thực hiện nhằm đem đến cho xã hội những tác động tích cực và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh đưa ra các chuẩn mực, quy định hướng dẫn hành vi trong hoạt động của tổ chức. Đạo đức kinh doanh đưa ra những chuẩn mực rõ ràng 9 để đánh giá phẩm chất của một tổ chức mà chính những chuẩn mực này dẫn dắt đến việc đưa ra quyết định cuối cùng của tổ chức trong khi trách nhiệm xã hội được xem như một cam kết của tổ chức đối vối xã hội. Khi hướng mục tiêu quan tâm đến trách nhiệm xã hội, tổ chức sẽ quan tâm đến hậu quả tác động đến xã hội trước những quyết định của tổ chức.
Tuy khác nhau nhưng trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đạo đức trở thành sức mạnh trong trách nhiệm xã hội và là một khía cạnh trong mô hình kim tự tháo về trách nhiệm xã hội (Carroll, 1979).3 Phát triển bền vững – Mục tiêu thực hiện trách nhiệm xã hội Năm 1972, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường sống ở Stockholm, lần đầu tiên thuật ngữ phát triển bền vững được sử dụng. Tuy nhiên mãi cho đến năm 1987, Ủy ban Brundtland - Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới mới đưa ra một định nghĩa chính thức về Phát triển bề vững như sau: “Phát triển có nghĩa là chỉ tập trung thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không cam kết đảm bảo nguồn tài nguyên cho những thế hệ trong tương lai. Còn phát triển bền vững là không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội đơn thuần mà còn cam kết, đảm bảo nhu cầu của những người nghèo và thừa nhận giới hạn về nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới, không làm ảnh hưởng đến thế hệ tương lai”.
Như đã đề cập tại phần 1.2, Ngân hàng Thế giới (năm 2004) đã khẳng định mối tương quan giữa trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững, theo đó “Trách nhiệm xã hội là cam kết của tổ chức đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, phối hợp với người lao động, gia đình của họ, cộng đồng địa phương và xã hội nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống theo hướng có lợi cho tổ chức cũng như sự phát triển chung”. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không những giúp cho tổ chức phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội. Từ sự phát triển bền vững sẽ là nguyên nhân hướng đến việc áp dụng tính CSR vào chính đơn vị theo hướng giai đoạn gồm 3 bước, đó là: (i) sự phát triển bền vững, (ii) đơn vị đủ nguồn lực để đóng góp cho xã hội; (iii) tạo ra trách nhiệm xã hội của đơn 10 vị (Arjan de Draaijer – KPMG Global Sustainability Service 2016). Hầu hết các tổ chức muốn phát triển và tồn tại lâu dài đều phải có ý thức và hành động vì xã hội, đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai.4 Lý thuyết các bên liên quan Lý thuyết các bên liên quan là lý thuyết được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của tổ chức.
Tiêu biểu trong trường phái lý thuyết này là các tác giả Freeman, Friedman và Wood trong đó Freeman được xem như là cha đẻ của lý thuyết này. Lý thuyết các bên liên quan được đề cập tại cuốn sách “Quản trị chiến lược: Phương pháp tiếp cận các bên liên quan” của Freeman (1984) như một đề xuất cho chiến lược quản lý các tổ chức vào cuối thế kỷ XX.