Chương 1: Những lý luận cơ bản về nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng năng lực tài chính của Tổng công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí giai đoạn 2014-2016 Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của Tổng công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí 6 CHƢƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp.
Các hoạt động có liên quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Bản chất của tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể quy các quan hệ tài chính doanh nghiệp về ba dạng cơ bản sau: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước có thể được thể hiện thông qua các trường hợp như doanh nghiệp nhận vốn góp, nhận tài trợ hoặc vay vốn từ ngân sách nhà nước; nộp thuế, lệ phí và các khoản khác vào ngân sách nhà nước. Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác Quan hệ tài chính phát sinh giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội rất đa dạng.
Hầu hết các quan hệ này gắn liền với các loại thị trường như thị trường tài chính, thị trường hàng hóa, thị trường sức lao động, thị trường khoa học và công nghệ. Các chủ thể có quan hệ tài chính với doanh nghiệp có thể là tổ chức tín dụng, nhà đầu tư, nhà cung ứng và khách hàng. Nội dung các mối quan hệ này có thể là vay, thuê, mua bán hoặc trao đổi, đầu tư, chuyển nhượng, đền bù, thế chấp, đặt cọc. Nhờ các quan hệ này mà doanh nghiệp thực hiện được các hoạt động kinh doanh bình thường, liên tục.
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp thể hiện thông qua việc doanh nghiệp phân phối và điều chuyển các quỹ tiền tệ dưới hình thức tài sản hoặc 7 tiền tệ cho các đơn vị thành viên và cá nhân trong doanh nghiệp; phân phối tiền lương, tiền công, trợ cấp cho người lao động; phân phối các quỹ của doanh nghiệp cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức và cho người lao động dưới hình thức tiền thưởng, phúc lợi hoặc hoàn trả vốn cho cổ đông, bồi thường vật chất cho người lao động… Các mối quan hệ này gắn liền với việc thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương, tạm ứng, thanh toán trong nội bộ doanh nghiệp… giữa doanh nghiệp với các bộ phận và cá nhân trong nội bộ doanh nghiệp. Vai trò của tài chính doanh nghiệp Thông qua các quyết định tài chính, tài chính doanh nghiệp thể hiện vai trò quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và được thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất. Để có đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp phải thanh toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, bên cạnh đó phải tổ chức huy động và sử dụng đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp, đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh “khắc nghiệt” theo cơ chế thị trường. Thứ hai, vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh Thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối.
Thu nhập bằng tiền mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất như: bù đắp hao mòn máy móc thiết bị, trả lương cho người lao động và để mua nguyên nhiên liệu để tiếp tục chu kỳ sản xuất mới, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước. Phần còn lại doanh nghiệp dùng hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn, hoặc trả lợi tức cổ phần (nếu có). Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp và quá trình phân phối đó luôn gắn liền với những đặc điểm vốn có của hoạt động SXKD và hình thức sở hữu doanh nghiệp. 8 Ngoài ra, nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp phù hợp với qui luật sẽ làm cho tài chính DN trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tác động tới tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăng vòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội.
Thứ ba, vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành thường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính. Cụ thể các chỉ tiêu đó là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, chỉ tiêu đặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguồn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năng sinh lời…Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tài chính – kinh doanh của doanh nghiệp. Chức năng của tài chính doanh nghiệp Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn Một doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được thì cần phải có vốn và quyền sử dụng vốn bằng tiền của mình một cách chủ động.
Vốn có thể được huy động từ các nguồn sau: - Ngân sách Nhà nước cấp. - Vốn tự tài trợ: là vốn nội bộ của doanh nghiệp bao gồm phần vốn khấu hao cơ bản để lại của doanh nghiệp; phần lợi nhuận để lại và phần tiền nhượng bán tài sản (nếu có). - Vốn liên doanh liên kết: đó là sự góp tiền hoặc góp tài sản của các doanh nghiệp khác để cùng với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. - Vốn vay: chủ yếu là vốn vay các tổ chức tín dụng.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể huy động vốn từ cán bộ công nhân viên và doanh nghiệp sẽ trả lãi cho số vốn vay đó. 9 Để thực hiện sản xuất kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn và có phương án tạo lập, huy động vốn cụ thể: - Thứ nhất, phải xác định nhu cầu vốn (vốn cố định và vốn lưu động) cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh. - Thứ hai, phải xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn: Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn theo một số phương thức như trên với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng vẫn bảo đảm có hiệu quả. Nếu khả năng lớn hơn nhu cầu thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường hoặc có thể tham gia vào thị trường tài chính như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh.
- Thứ ba, phải lựa chọn nguồn vốn và phương thức thanh toán các nguồn vốn sao cho chi phí doanh nghiệp phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gian hợp lý. Chức năng phân phối thu nhập Sau khi huy động vốn và đã sử dụng nguồn vốn thu được kết quả là việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ, doanh nghiệp tiến hành phân phối thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhìn chung, doanh nghiệp phân phối như sau: - Bù đắp các yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tư, chi phí cho lao động và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có lãi). - Phần lợi nhuận còn lại sẽ phân phối như sau: Bù đắp các chi phí không được trừ.
Chia lãi cho đối tác góp vốn, chi trả cổ tức cho các cổ đông. Phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của doanh nghiệp. Chức năng giám đốc đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Giám đốc tài chính là việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Việc thực hiện chức năng này thông qua các 10 chỉ tiêu tài chính để kiểm soát tình hình đảm bảo vốn cho sản xuất - kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn cho sản xuất - kinh doanh.
Cụ thể qua tỷ trọng, cơ cấu nguồn huy động, việc sử dụng nguồn vốn huy động, việc tính toán các yếu tố chi phí vào giá thành và chi phí lưu thông, việc thanh toán các khoản công nợ với ngân sách, với người bán, với tín dụng ngân hàng, với công nhân viên và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giúp cho chủ thể quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, những sơ hở trong công tác điều hành, quản lý kinh doanh để có quyết định ngăn chặn kịp thời các khả năng tổn thất có thể xảy ra, nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm của chức năng giám đốc tài chính là toàn diện và thường xuyên trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm năng lực tài chính của doanh nghiệp Năng lực tài chính của doanh nghiệp là tiềm lực tài chính của bản thân doanh nghiệp mà nhờ vào đó doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng để đáp ứng quá trình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp ngay trong điều kiện biến đổi khó lường của nền kinh tế.