phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: 3 Chƣơng 1: - Những vấn đề cơ bản về quản lý, năng lực quản lý trong các tổ chức và Ban quản lý trong các Khu Công nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng năng lực quản lý tại Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Sóc Trăng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý tại Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Sóc Trăng. 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ, NĂNG LỰC QUẢN LÝ TRONG CÁC TỔ CHỨC VÀ BAN QUẢN LÝ TRONG CÁC KHU CÔNG NGHİỆP. Những vấn đề cơ bản về quản lý.Khái niệm, đặc điểm và phân loại quản lý 1.Khái niệm quản lý.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trƣờng luôn biến động.Đặc điểm quản lý. Quản lý có những đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất, quản lý mang tính tất yếu và phổ biến. Tính tất yếu và phổ biến của hoạt động quản lý biểu hiện ở chỗ: Bản chất của con ngƣời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Điều đó có nghĩa là con ngƣời không thể tồn tại và phát triển nếu không quan hệ và hoạt động với ngƣời khác.
Khi con ngƣời cùng tham gia hoạt động với nhau thì tất yếu phải có một “ ý chí điều khiển “ hay là phải có tác nhân quản lý nếu muốn đạt tới trật tự và hiệu quả. Mặt khác, con ngƣời thông qua hoạt động để thỏa mãn nhu cầu mà thỏa mãn nhu cầu này lại phát sinh nhu cầu khác vì vậy con ngƣời phải tham dự vào nhiều hình thức hoạt động với nhiều loại hình tổ chức khác nhau. Chính vì vậy, hoạt động quản lý tồn tại nhƣ một tất yếu ở mọi loại hình tổ chức khác nhau. - Thứ hai, hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời.
Thực chất của quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong quản lý là quan hệ giữa chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) và đối tƣợng quản lý ( ngƣời bị quản lý ). Một trong những đặc trƣng nổi bật của hoạt động quản lý so với các hoạt động khác là ở chỗ: các hoạt động cụ thể của con ngƣời là biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ thể ( con ngƣời ) với đối tƣợng của nó ( là lĩnh vực phi con ngƣời ). Còn hoạt động quản lý dù ở lĩnh vực hoặc cấp độ nào cũng là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Vì vậy, tác động quản lý ( mục tiêu, nội 5 dung, phƣơng thức quản lý) có sự khác biệt so với các tác động của các hoạt động khác.
- Thứ ba, quản lý là tác động có ý thức. Chủ thể quản lý tác động tới đối tƣợng quản lý là những con ngƣời hiện thực để điều khiển hành vi, phát huy cao nhất tiềm năng và năng lực của họ nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Chính vì vậy, tác động quản lý ( mục tiêu, nội dung và phƣơng thức ) của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý phải là tác động có ý thức, nghĩa là tác động bằng tình cảm ( tâm lý ), dựa trên cơ sở tri thức khoa học ( khách quan, đúng đắn) và bằng ý chí ( thể hiện bản lĩnh ). Có nhƣ vậy chủ thể quản lý mới gây ảnh hƣởng tích cực tới đối tƣợng quản lý.
- Thứ tư, quản lý là tác động bằng quyền lực. Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trên cơ sở các công cụ, phƣơng tiện và cách thức tác động nhất định. Tuy nhiên khác với các hoạt động khác, hoạt động quản lý chỉ có thể tồn tại nhờ yếu tố quyền lực ( có thể coi quyền lực là một công cụ, phƣơng tiện đặc biệt). Với tƣ cách là sức mạnh đƣợc thừa nhận, quyền lực là nhân tố giúp cho chủ thể quản lý tác động tới đối tƣợng quản lý để điều khiển hành vi của họ.
Quyền lực đƣợc biểu hiện thông qua các quyết định quản lý, các nguyên tắc quản lý, các chế độ, chính sách.Nhờ có quyền lực mà chủ thể quản lý mới đảm trách đƣợc vai trò của mình là duy trì kỷ cƣơng, kỷ luật và xác lập sự phát triển ổn định, bền vững của tổ chức. - Thứ năm, quản lý là tác động theo quá trình. Các hoạt động cụ thể thƣờng đƣợc tiến hành trên cơ sở những kiến thức chuyên môn, những kỹ năng tác nghiệp của nó còn hoạt động quản lý đƣợc tiến hành theo một quy trình bao gồm: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Đó là quy trình chung cho mọi nhà quản lý và mọi lĩnh vực quản lý.
Nó đƣợc gọi là các chức năng cơ bản của quản lý và mang tính “ kỹ thuật học “ của hoạt động quản lý. Với quy trình nhƣ vậy, hoạt động quản lý đƣợc coi là một dạng lao động mang tính gián tiếp và tổng hợp. Nghĩa là nó không trực tiếp tạo ra sản phẩm mà nhờ thực hiện các vai trò định hƣớng, thiết kế, duy trì, thúc đẩy và điều chỉnh để từ đó gián tiếp tạo ra nhiều sản phẩm hơn và mang lại hiệu lực và hiệu quả cho tổ chức. - Thứ sáu, quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực.
Thông qua tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình mà hoạt động quản lý mới có thể 6 phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài tổ chức. Các nguồn lực đƣợc phối hợp bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực. Nhờ phối hợp các nguồn lực đó mà quản lý trở thành tác nhân đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên hợp lực chung trên cơ sở những lực riêng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trên cơ sở những sức mạnh của các bộ phận nhằm hoàn thành mục tiêu chung một cách hiệu quả mà từng cá nhân riêng lẻ hay các bộ phận đơn phƣơng không thể đạt tới. - Thứ bảy, quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung.
Hiệu qủa của các hoạt động cụ thể đƣợc đo bằng kết quả cuối cùng mà nó mang lại nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể đến mức độ nào, còn hoạt động quản lý ngoài việc thỏa mãn nhu cầu riêng của chủ thể thì điều đặc biệt quan trọng là phải đáp ứng lợi ích của đối tƣợng. Nó là hoạt động vừa phải đạt đƣợc hiệu lực, vừa phải đạt đƣợc hiệu quả. - Thứ tám, quản lý là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Tính khoa học của hoạt động quản lý thể hiện ở chỗ các nguyên tắc quản lý, phƣơng pháp quản lý, các chức năng của quy trình quản lý và các quyết định quản lý phải đƣợc xây dựng trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm mà nhà quản lý có đƣợc thông qua quá trình nhận thức và trải nghiệm trong thực tiễn.
Điều đó có nghĩa là, nội dung của các tác động quản lý phải phù hợp với điều kiện khách quan của môi trƣờng và năng lực hiện có của tổ chức cũng nhƣ xu hƣớng phát triển tất yếu của nó. Tính nghệ thuật của hoạt động quản lý thể hiện ở quá trình thực thi các quyết định quản lý trong thực tiễn và đƣợc biểu hiện rõ nét trong việc vận dụng các phƣơng pháp quản lý, việc lựa chọn các phong cách và nghệ thuật lãnh đạo. Quản lý đƣợc coi là một nghệ thuật vì nó liên quan đến nhiều khía cạnh rất tế nhị, đôi khi rất mỏng giòn, có lúc ranh giới không thể xác định rõ đƣợc. Gọi quản lý là một nghệ thuật còn vì nó chủ yếu làm việc với con ngƣời.
Tính khoa học và nghệ thuật trong quản lý không loại trừ nhau mà chúng có mối quan hệ tƣơng tác, tƣơng sinh và đƣợc biểu hiện ra ở tất cả các nội dung của các hoạt động quản lý. Điều đó tạo nên đặc trƣng nổi bật của hoạt động quản lý so với những hoạt động khác. 7 - Thứ chín, mối quan hệ giữa quản lý và tự quản. Quản lý và tự quản là hai mặt đối lập của một chỉnh thể.
Điều đó thể hiện ở chỗ, nếu hoạt động quản lý đƣợc thực hiện một cách khoa học nghĩa là không áp đặt quyền lực một chiều từ phía chủ thể mà là sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tƣợng thì quản lý và tự quản lý là có sự thống nhất với nhau. Nhƣ vậy, quản lý theo nghĩa đích thực đã bao hàm trong nó cả yếu tố tự quản. Tuy nhiên trong quá trình hƣớng tới tự do của con ngƣời, không phải khi nào và ở đâu cũng có thể đạt tới sự thống nhất giữa quản lý và tự quản mà nó là một mâu thuẫn cần phải đƣợc giải quyết trong từng nấc thang của sự phát triển. Quá trình đó có thể đƣợc gọi là quản lý tiệm cận tới tự quản.
Nhƣ vậy, quản lý trong tất cả các tổ chức là những hoạt động của một cơ quan trong đó yêu cầu đầu tiên là tập hợp mọi ngƣời trong cơ quan để cùng nhau đạt đến mục tiêu chung một cách chuyên sâu và có hiệu quả. Phân loại quản lý: + Theo nội dung hoạt động trong lĩnh vực quản lý, ta có các loại quản lý: - Quản lý kinh tế là loại quản lý thuộc lĩnh vực kinh tế nhƣ lợi ích kinh tế, lợi nhuận, tăng trƣởng kinh tế. - Quản lý khoa học - công nghệ là loại quản lý thể hiện ở những tiến bộ khoa học – công nghệ sẽ đạt đƣợc trong lĩnh vực kinh tế và quản lý. - Quản lý xã hội là loại quản lý thể hiện ở trình độ thỏa mãn các nhu cầu của ngƣời lao động về mặt phát triển xã hội.
- Quản lý môi trƣờng sinh thái là loại quản lý về bảo vệ môi trƣờng sinh thái nhằm đảm bảo môi trƣờng sống cho con ngƣời và phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững. + Theo thời gian thực hiện, quản lý có các mục tiêu trƣớc mắt, mục tiêu quá độ và mục tiêu lâu dài. Các mục tiêu lâu dài là cơ sở, định hƣớng chiến lƣợc để hoạch định, sắp xếp các mục tiêu trƣớc mắt, mục tiêu quá độ. Ngƣợc lại phải trên cơ sở thực hiện tốt các mục tiêu cụ thể ở từng thời điểm mới có thể đạt đƣợc các mục tiêu lâu dài.
8 + Xét theo tính chất của các mục tiêu, quản lý có các mục tiêu chiến lƣợc và mục tiêu sách lƣợc.