Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về Ban Quản lý khu công nghiệp 1. Khu Công nghiệp 1. Khái niệm Khu công nghiệp là khu vực sản xuất đặc biệt, chỉ ra đời và phát triển trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định.
Có nguồn gốc hình thành vào khoảng giữa thế kỷ thứ 16, khu công nghiệp (KCN) hiện nay có tiền thân từ những cảng tự do và những công trường thủ công. Tuy nhiên, các loại hình KCN được ghi nhận chính thức vào khoảng hơn 100 năm nay. Anh là nước công nghiệp đầu tiên và xây dựng KCN đầu tiên vào năm 1896 ở Manchester và sau đó là đến nước Mỹ, với vùng công nghiệp Chicago. Tại Ý, cũng hình thành KCN Napoli vào những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XX.
Đến những năm 50-60 của thế kỷ XX, các vùng công nghiệp và các KCN phát triển nhanh chóng và lan toả rộng khắp các nước công nghiệp phát triển. Vào thời kỳ này Mỹ có 452 vùng công nghiệp và gần 1.000 KCN, Pháp có 230 vùng công nghiệp, Canada có 21 vùng công nghiệp. Tiếp theo các nước công nghiệp đi trước, vào những năm 60-70, hàng loạt các KCN, khu chế xuất (KCX) được hình thành và phát triển nhanh chóng ở các nước công nghiệp hoá thế hệ sau như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan…Cũng trong thời kỳ này ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây như Liên Xô, Đức, Tiệp Khắc cũng tiến hành xây dựng các xí nghiệp liên hợp, các cụm công nghiệp lớn, các trung tâm công nghiệp tập trung. Loại hình này hiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa.
Trên thế giới có nhiều định nghĩa về KCN, tuy nhiên, không có một khái niệm chung thống nhất được thừa nhận. Mỗi định nghĩa đều mang những nội dung với một giá trị nhất định. Có hai mô hình phát triển KCN phổ biến, từ đó e 10 cũng hình thành hai cách định nghĩa về KCN. Cách thứ nhất đã định nghĩa: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh sống trong khu.
Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ. Khu công nghiệp theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc biệt như: các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu. Cách định nghĩa thứ hai: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác. Theo quan điểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia,…đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nước ta đang áp dụng hiện nay.
Ở Việt Nam, trong những năm đầu của công cuộc đổi mới (từ sau năm 1986), Nhà nước đã học tập kinh nghiệm xây dựng mô hình KCN, KCX của các nước Đông Á. Chính phủ Việt Nam đã có ý tưởng thành lập các khu vực tập trung có cơ sở hạ tầng đặc biệt để có thể thu hút đầu tư nước ngoài bằng nhiều ưu đãi với ít thủ tục hành chính. Để thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa theo hướng CNH, HĐH theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 của Đảng, Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã ban hành Nghị định số 322-HĐBT ngày 18/10/1991 Nghị định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế Khu chế xuất làm cơ sở cho sự ra đời của các KCX sau này. Nghị định này hình thành dựa trên tiến trình thành lập KCX Tân Thuận - KCX đầu tiên của nước ta theo quyết định số 394/CT của Chủ tịch HĐBT về việc thành lập KCX Tân Thuận ngày 25/11/1991.
Tại Điều 1, Điều 2 Nghị định này quy định thì “ KCX là KCN tập trung chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo Quy chế e 11 này. Khu chế xuất do Chính phủ Việt Nam thành lập ở những địa bàn có vị trí thuận tiện cho sản xuất hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu, có ranh giới địa lý được ấn định theo quyết định thành lập”. Từ những hiệu ứng tích cực trong thu hút đầu tư từ KCX đem lại, Chính phủ ban hành Nghị định số 192/CP ngày 28/12/1994 Ban hành Quy chế KCN. Nghị định này lần đầu tiên có quy định diễn giải về KCN như sau: “Khu công nghiệp là Khu công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống”.
Năm 1997, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 36-CP ngày 24/4/1997 về ban hành Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao thay thế Quy chế khu chế xuất đã ban hành theo Nghị định 322/HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng, Quy chế khu công nghiệp ban hành kèm theo Nghị định 192/CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ [10], [11]. Năm 2008, trong Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 14 tháng 3 năm 2008, quy định thống nhất về KCN, KCX và KKT thì Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp và được định nghĩa như sau [12]: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này”. Nghị định 82/2018/NĐ - CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về Quản lý Khu Công nghiệp và Khu Kinh tế, xác định: "Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ e 12 tục quy định tại Nghị định này".
Như vậy, KCN là khu vực kinh tế đặc biệt, chịu sự quản lý của nhà nước, được thực hiện bởi các cơ quan chức năng, có thẩm quyền theo luật định [14]. Từ các quan điểm trên đây, có thể quan niệm về Khu Công nghiệp theo cách chung nhất như sau: "Khu công nghiệp là khu vực có diện tích được quy hoạch lâu dài, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ quyết định thành lập,chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp". Khu công nghiệp được đầu tư xây dựng hệ thống công trình, kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất, kinh doanh được thuận lợi, đảm bảo sự phát triển bền vững, hài hòa giữa các lợi ích về kinh tế - xã hội - môi trường. Bên trong KCN tập trung các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá công nghiệp, và những dịch vụ công nghiệp được đầu tư bởi nhiều thành phần kinh tế khác nhau có thể dùng để phục vụ cho thị trường trong nước hoặc có thể phục vụ cả mục tiêu xuất khẩu.
Ngoài ra trong KCN còn có thể có những doanh nghiệp chế xuất hoặc các doanh nghiệp công nghệ cao được tập trung vào những tiểu khu riêng như tiểu khu chế xuất, tiểu khu công nghệ cao trong KCN. Theo quan điểm của các nhà lập pháp ở Việt Nam, KCN thường được gọi theo một tên gọi khác, đó là KCN tập trung, nó hàm ý bao gồm cả các KCN, KCX và Khu công nghệ cao. Vai trò của Khu Công nghiệp a. Thu hút công nghệ Việc hình thành các KCN cho phép các quốc gia có thể tiếp thu công nghệ và kỹ năng sản xuất công nghiệp là mục đích của các nước chậm và nước đang phát triển.
Thông qua việc thành lập các Khu Công nghiệp, thu hút đầu tư nước ngoài, các nước có thể tiếp nhận kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển và dây truyền công nghệ hiện đại , thúc đẩy phát triển sản xuất, tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Trên cơ sở tiếp thu công nghệ, kỹ năng sản xuất, còn có thể giúp nước sở tại phát triển công nghiệp trong nước, góp phần rút e 13 ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước. Bên cạnh, sự hình thành và phát triển của các KCN còn bổ sung cho các nước nhận vốn đầu tư nước ngoài các bí quyết, kinh nghiệm sản xuất hiện đại và tìm kiếm thị trường. Tạo việc làm và nâng cao kỹ năng lao động cho người lao động trong Khu công nghiệp Các nhà đầu tư như doanh nghiệp, thương nhân thực hiện tổ chức sản xuất trong Khu Công nghiệp là cần có lao động , có thể tạo việc làm cho người lao động.
Thông qua lao động trong môi trường các KCN hiện đại có thể đào tạo người lao động phát triển về kỹ năng nghề và ý thức tổ chức kỷ luật, hình thành người lao động mới, có thể đáp ứng yêu cầu làm việc ngày càng cao và mở ra cơ hội việc làm tốt hơn cho người lao động. Thúc đẩy xuất khẩu, góp phần tăng thu ngoại tệ Trong các Khu công nghiệp có Khu chế xuất, không chỉ tạo việc làm cho người lao động mà còn tạo ra những sản phẩm theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến, phục vụ xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho nước ở tại. Thu hút vốn đầu tư cho phát triển các ngành công nghiệp Khu Công nghiệp là nơi có cơ chế, chính sách và không gian đầu tư kinh doanh đặc biệt, có những ưu đãi và cơ hội phát triển các ngành, hàng trong lĩnh vực công nghiệp để xuất khẩu. Khu Công nghiệp vì thế có khả năng thu hút vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Đó là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho các quốc gia thiếu vốn, nhất là đối với các nước đang phát triển, có nhu cầu thúc đẩy nền công nghiệp.