Chương 1: Cơ sở lý luận. Chương | trình bày các khái niệm cơ bản, cơ sở lý thuyết về công nghệ, năng lực công nghệ, CNTT và năng lực CNTT tại nhà trường Y Dược ma luận văn sẽ căn cứ, sử dụng trong quá trình điều tra khảo sát và nghiên cứu đề xuất các giải pháp. Chương 2: Kết qua diéu tra thực trạng nang lực CNTT tai Học viện Quan y. Chuong 2 trinh bay két qua diéu tra thuc trang nang luc CNTT tai cac tai Hoc vién Quan y; bao gom các số liệu đã được thống kê, xử lý cùng các nhận xét đánh giá về thực trạng năng lực CNTT của Học viện Quân y được so sánh với số liệu các trường đại học Y Dược trong toàn quốc.
Chương 3: ĐỀ xuất một số giải pháp nâng cao nang lực CNTT tại nhà trường Y Dược. Chương 3 trình bày các giải pháp nâng cao năng lực CNTT tại nhà trường Y Dược và một số giải pháp cụ thể nâng cao năng lực CNTT tại Học viện Quân y. Công nghệ, năng lực công nghệ. Định nghĩa công nghệ.
Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người. Từ “công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp “Teknve — Techne” có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng; Va “Aoyoo —logos” có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu. Như vậy, thuật ngữ Technology (Tiếng Anh) hay Technologie (Tiếng Pháp) có nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật và thường được gọi là công nghệ học. Trong thực tế, do sự phong phú, đa dạng của công nghệ khiến những người sử dụng một số công nghệ cụ thể trong những điều kiện hoàn cảnh không giống nhau dẫn đến khái quát của họ về công nghệ khác nhau.
Bên cạnh đó, sự phát triển vũ bão của công nghệ làm thay đổi nhiều quan niệm cũ dẫn đến có nhiều định nghĩa hay khái niệm về công nghệ như sau: - Theo Tổ chức phát triển Công nghệ của Liên hợp quốc UNIDO[17]: “Công nghệ là việc áp dụng khoa học về công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phương pháp”. Với định nghĩa này thì Công nghệ được hiểu với bản chất là “kiến thức khoa học”. - Theo tác giả Baranson — 1976 [12]: “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một qui trình hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện va sản pham công nghiệp hoàn chỉnh”. Ở định nghĩa này bản chất công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu là sản xuất ra các vật liệu, câu kiện và sản phẩm công nghiệp.
- Theo quan điểm cua Sharif -1986 [12]: “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đôi mới và lựa chon từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa”. Theo Sharif, công nghệ là tập hợp của “phần cứng” và “phân mêm”, gôm 4 dạng cơ bản: thê hiện ở dạng vật chât 17 (vật liệu, công cụ, thiết bị, máy móc.), thể hiện ở dạng ghi chép (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiém.), thé hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dich vụ, phương tiện truyền bá thông tin, cơ cấu quản lý. - Theo quan điểm của Gaynor G[17]: “Công nghệ bao gồm các phương tiện dé thực hiện được một nhiệm vu, bao gồm tất cả những cần thiết để chuyền các nguồn lực trở thành các sản phẩm hoặc dich vụ. Gồm kiến thức và các nguồn lực cần thiết để đạt được một mục tiêu nào đó.
Là phần kiến thức khoa học và kỹ thuật có thể được áp dụng trong việc thiết kế san phâm hay các qui trình hoặc áp dụng trong việc nghiên cứu kiến thức mới”. Với quan điểm như vậy, Gaynor đã sử dụng định nghĩa công nghệ là các phương tiện để thực hiện được một nhiệm vụ, bao gồm tat cả những gi cần thiết dé chuyển các nguồn lực thành sản pham hoặc dịch vụ khi đề cập đến vấn đề quản lý công nghệ. - Theo Uy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu A Thái Bình Dương — ESCAP [1,16]: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”.
Theo định nghĩa này, công nghệ bao gồm 2 phần: phần “kiến thức” và phần “thiết bị”. - Theo Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam [28]: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, qui trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biển đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Định nghĩa cho thấy công nghệ gồm hai thành phần: “kiến thức” và “công cụ, phương tiện” dé tạo ra các sản phẩm. Qua các định nghĩa nêu trên, với góc độ nhìn nhận khác nhau cho thay có hai quan điểm co bản về công nghệ, gồm: - Công nghệ là “kiến thức”: dạng kiến thức, cách thức, sự áp dụng khoa học.
và theo quan điểm này công nghệ là “phần mềm” mà không bao gôm “phân cứng” như: máy móc, thiệt bi, công cụ sản xuât. 18 - _ Công nghệ là “kiến thức” và “thiết bị”: ngoài phần kiến thức còn gọi là “phần mềm” như quan điểm nêu trên thì công nghệ còn bao gồm “phần cứng”: thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất, vật thê. Tóm lại, công nghệ có thé được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (phan cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vu.) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phâm và dịch vụ. Trong luận văn sử dụng định nghĩa công nghệ theo quan điểm của Sharif.
Các thành phan cơ bản của công nghệ. - Phần kỹ thuật (Technoware — ký hiệu T): công nghệ hàm chứa trong các vật thé bao gồm các công cụ, thiết bị, máy móc, phương tiện và các cấu trúc hạ tang khác. Trong công nghệ sản xuất, các vật thé này thường làm thành dây chuyền dé thực hiện quá trình biến đổi (thường gọi là dây chuyền công nghệ), ứng với một qui trình công nghệ nhất định, đảm bảo tính liên tục của quá trình công nghệ. - Phan con người (Humanware — ký hiệu H): Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong công nghệ bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sang tao, sự khôn ngoan, kha năng phối hợp, đạo đức lao động.
- Phan tổ chức (Orgaware — ký hiệu O): Công nghệ ham chứa trong khung thé chế dé xây dựng cấu trúc tô chức, bao gồm những qui định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kê cả những qui trình đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần kỹ thuật và phần con nguoi. - Phan thông tin (Inforware — ký hiệu I): Có thé gọi thành phan nay là công nghệ ham chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá được sử dụng trong công nghệ, bao gồm các dit liệu về phan kỹ thuật, về phần 19 con người và phan tô chức. Ví dụ, dữ liệu về phần kỹ thuật như: Các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị, để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật. Trong 04 thành phần trên, phần kỹ thuật được gọi là “phần cứng” của công nghệ, còn các phan: con người, tô chức và thông tin được gọi là “phần mềm” của công nghệ.
Định nghĩa năng lực công nghệ. Cho đến nay, trải qua các giai đoạn khác nhau, với các góc độ nhìn nhận khác nhau, hiện có một số định nghĩa về năng lực công nghệ như sau: - Theo quan điểm của S. Lall [1]: “Nang lực công nghệ là khả năng triển khai những công nghệ đã có một cách có hiệu quả và đương đầu được với những thay đôi lớn về công nghệ”. Lall cho rang năng lực công nghệ phản ánh bởi năng lực tổng hợp thực hiện những nhiệm vụ trong chuỗi hoạt động “mua - sử dụng — thích nghỉ - cải tiến”, và chia năng lực công nghệ thành các nhóm sau: o Nang lực chuẩn bi đầu tư.
o Năng lực thực hiện dự án. o Năng lực thực hiện các công việc về công nghệ quá trình (Proccess Techonogy). o Năng lực lập kế hoạch tông thé và điều hành sản xuất. o Năng lực chuyên giao công nghệ.
o Năng lực đổi mới về tô chức dé phát triển công nghệ. Fransman [1,16] - một chuyên gia về quản ly công nghệ: “Năng lực công nghệ liên quan đến năng lực của doanh nghiệp dé tiến hành các hoạt động nhằm biến đổi đầu vao thành đầu ra”. Năng lực công nghệ bao gồm các yếu tô như sau: o Năng lực tìm kiếm các công nghệ để thay thé, lựa chọn công nghệ thích hợp đã nhập khâu. o Năng lực nam vững công nghệ nhập khẩu và sử dụng hiệu quả.
20 o Năng lực thích nghi công nghệ nhập khẩu với hoàn cảnh, điều kiện đơn phương tiếp nhận. o Năng lực cung cấp công nghệ đã có, và năng lực đổi mới. o Năng lực thể chế hóa việc tìm kiếm những đổi mới và những đột phá quan trọng nhờ phát triển các phương tiện nghiên cứu và triển khai trong nước. o_ Tiến hành nghiên cứu cơ bản để tiếp tục nâng cấp công nghệ.
Theo Viện nghiên cứu phát triển Thái Lan TDRI [1]: phân chia năng lực công nghệ theo ba nhóm độc lập: o Nang lực tiếp nhận: bao gồm năng lực tìm kiếm, đánh giá, dam phán, mua bán, chuyển giao, thiết kế nhà xưởng, lắp đặt các phương tiện sản xuất. © Năng lực vận hành: gồm năng lực thao tác, bảo dưỡng, đào tạo, quản lý, kiểm tra chất lượng. o Nang lực thích nghỉ: gồm tiếp thu kiến thức, hap thụ công nghệ, thích nghỉ va cải tiến sản phẩm va qua trình. o Năng lực đổi mới: gồm R&D, đổi mới sản phẩm và quá trình.
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc UNIDO [17], các yêu tố năng lực công nghệ bao gồm: o Khả năng đảo tạo nhân lực. o Khả năng nghiên cứu cơ bản. o Khả năng thử nghiệm phương tiện kỹ thuật. o_ Khả năng tiếp nhận và thích nghi công nghệ.
o Khả năng cung cấp và xử lý thông tin.