CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VE NÂNG CAO CONG TÁC HUY DONG VON Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CÔNG TÁC HUY DONG VON Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Hoạt động đầu tiên của loại hình NH sơ khai đó là giữ hộ tiền, thanh toán hộ cho KH và cho vay ngắn hạn dưới hình thức chiết khấu thương phiếu. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội thì hoạt động NH cũng ngày càng phát triển để làm tròn các chức năng của chúng, trong đó quan trọng nhất là thực thi chức trách của một trung gian tài chính nhằm chuyên hóa các nguồn vốn nhỏ lẻ, tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể kinh tế tạm thời “thừa vốn” sang các chủ thé kinh tế “tạm thời” thiếu vốn cho SXKD hoặc tiêu dùng.
Với việc thực thi chức năng này, NHTM là cầu nối quan trọng giữa những người cho vay và đi vay, đồng thời, làm hạn chế tín dụng trực tiếp. Là một loại hình “DN đặc biệt”, để tiễn hành hoạt động kinh doanh, thì cũng giống như các loại hình doanh nghiệp khác, các NHTM cũng cần phải có một lượng vốn tự có nhất định. Tuy vậy, khác với các loại hình doanh nghiệp khác, vốn tự có của các NHTM thường rất nhỏ (theo qui định của Basel II thì vốn chủ sở hữu ít nhất phải bằng 8% so tổng tài sản Có của NH. Còn tại Việt Nam, theo qui định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN (ngày 20/5/2010) thì vốn chủ sở hữu tối thiểu phải ở mức 9% so tổng tài sản Có qui đổi theo mức độ rủi ro của NHTM).
Với tỷ lệ nhỏ như vậy thì có thé nói hau như vốn chủ sở hữu của các NHTM chi dé dé sử dụng cho việc đầu tư vào các tài sản cô định là chính, cũng có nghĩa là vốn dé cho vay và đầu tư ở NHTM hoàn toàn phụ thuộc vào vốn huy động. Từ đó có thé thay rằng vốn huy động là nhân tố “đầu vào” có tính quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM, điều đó cũng có nghĩa là hoạt động huy động vốn sẽ có ảnh hưởng có tính quyết định đến các hoạt động kinh doanh của NHTM; gan liền với nó, hiệu quả công tác huy động vốn có tính chất quyết định đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Hơn nữa, khác với các tô chức khác, với tư cách của một trung gian trên thị trường tài chính, các NHTM chỉ huy động vốn bằng tiền nhằm phục vụ cho các hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính là chủ yếu. Từ các phân tích trên có thé hiểu: Huy động vốn của NHTM là việc NHTM thông qua các phương pháp khác nhau, bằng việc sử dụng các công cụ khác nhau dé huy động vốn tiên tệ trong nên kinh tế.
Mục tiêu chính của công tác huy động vốn của NHTM là: (i) Tìm kiếm nguôn vốn “rẻ” Chi phí trả lãi thường là hạng mục chiếm ty trọng lớn nhất trong chi phí hoạt động của NHTM, trong đó, trả lãi cho huy động tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu và kỳ phiếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chỉ phí trả lãi của NH. Chính vì thế, quản lý chi phí trả lãi luôn là hoạt động thường xuyên va quan trọng nhất của NHTM. Bat cứ một sự thay đồi nào về lãi suất và cơ câu nguồn vốn đều có thé làm thay đổi chi phi trả lãi, qua đó, sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của NHTM. Xuất phát từ thực tế này, các NHTM sẽ phải tính toán chi phí của từng nguồn vốn cụ thé, từ đó, cho phép nhà quản trị của NHTM xác định những nguồn vốn nào “rẻ” hơn, có nên thay đổi lãi suất huy động nguồn hay không và nếu có thay đổi thì những thu nhập từ tai sản tăng thêm có đủ bù dap chi phí huy động nguồn tăng thêm hay không? Xét về nguyên lý thi các nguồn vốn có kỳ hạng càng ngắn thì tinh chất 6n định của chúng càng kém và do vậy chi phí huy động nguồn cũng sẽ phải “rẻ” hơn.
(ii) Tạo ra nguồn vốn ổn định với cơ cau hợp lý Về nguyên tắc cơ cau nguồn vốn huy động phải căn cứ theo cơ cấu cho vay và đầu tư của NHTM. Co cau cho vay và dau tư càng đa dang thì co cầu nguồn vốn huy động cũng càng cần có sự đang dang dé tránh những rủi ro kỳ hạn. Với một cơ cấu huy động nguồn vốn hợp lý sẽ giúp NHTM tránh được các căng thăng về tài chính trong điều kiện môi trường kinh doanh có sự biến động phức tạp. (iii) Giúp xác lập qui mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động ổn định Qui mô nguồn vốn huy động phải phù hợp với qui mô hoạt động kinh doanh của NH, có nghĩa là qui mô hoạt động kinh doanh của NH càng lớn thì nguồn vốn huy động cũng cần có sự tăng lên về qui mô cho phù hợp.
Tuy vậy, việc xác định qui mô huy động nguồn như thế nào là phù hợp là vấn đề khó khăn, đòi hỏi phải đặt trong từng tình huống cụ thể của môi trường kinh doanh cũng như công tác dự báo trong tương lai. Nếu như môi trường kinh doanh diễn biến phức tap thì đòi hoi NHTM phải tăng qui mô nguồn vốn huy động dé đáp ứng nhu cau thanh khoản. Việc xác lập qui mô và tốc độ tăng trưởng huy động nguồn của NHTM thì đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòa giữa các yêu tô về lãi suất, chính sách marketing, các hình thức huy động nguồn. trên cơ sở phải bảo dam tính ồn định của nguồn huy động trong bat cứ tình huống nào, ké ca trong hiện tại và tương lai.
Đây là yêu cầu bắt buộc mà NHTM phải hướng tới. Vai trò của công tác huy động vốn của NHTM Có thé nhìn nhận vai trò của công tác huy động vốn của các NHTM thông qua các góc độ chính sau đây: Thứ nhất, Góp phan huy động tập trung nguôn vốn tiên tệ tam thời nhàn roi trong nên kinh tế, qua đó phát huy hiệu quả các nguồn vốn tiễn tệ trong nên kinh tế Do tính chất chu kỳ của SXKD cũng như tồn tại khoảng cách nhất định giữa thu nhập và tiêu dùng nên trong nền kinh tế luôn tồn tại một lượng tiền 10 tạm thời nhàn rỗi. Qui mô của lượng tiền này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào qui mô và sự phát triển của nền kinh tế cũng như mức thu nhập của dân chúng. Hau hết lượng tiền này ở dang “tạm thời nhàn rỗi” do tính chất chu ky trong SXKD hoặc dân chúng chưa tìm kiếm được cơ hội đầu tư sinh lợi và điều nay cũng có nghĩa là có một lượng vốn tiền tệ nhất định trong nền kinh tế đang bị loại khỏi chu kỳ SXKD, điều này gây ra sự lãng phí nguồn lực cho nền kinh tế.
Nhưng bất cập này sẽ được khắc phục khi các NHTM, với tư cách của một trung gian tài chính, đứng ra huy động tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, chuyên chúng tới các địa chỉ cần vốn trong nền kinh tế thông qua các hoạt động cho vay và đầu tư, qua đó phát huy hiệu quả của nguồn vốn tiền tệ trong nền kinh tế. Công tác huy động vốn của các NHTM càng hiệu quả thì hiệu quả các nguồn vốn tiền tệ trong nền kinh tế sẽ càng cao. Thứ hai, Đáp ứng vốn cho nhu cầu dau tu phát triển Vốn là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển kinh tế và dé thúc day sự phát triển kinh tế thì trước hết phải tăng cường vốn đầu tư. Về nguyên tắc, vốn đầu tư có thể được hình thành từ vốn tự có của DN: Đây là nguồn vốn chủ đạo trong hoạt động đầu tư phát triển.
Tuy vậy, trong thực tế hầu như các DN không đủ vốn dé thực hiện các dự án đầu tư và dé bù đắp cho số vốn thiếu hụt thì DN có thé huy động từ các nguồn vốn khác, chang hạn thông qua phát hành chứng khoán, nhưng việc huy động vốn vay thông qua phát hành chứng khoán thường không thuận lợi do luôn chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ của Ủy ban Chứng khoán, hơn nữa, điều này còn tùy thuộc vào sự phát triển của thị trường chứng khoán. Vì vậy, cách thông dụng nhất là các DN đi vay vốn từ các NHTM. Có thé nói rằng hầu hết các nhu cầu vốn tam thời thiếu hụt trong đầu tư và kinh doanh của các DN và cá nhân trong nền kinh tế đều được các NHTM đáp ứng. Do hoạt động có tính chuyên nghiệp 11 cao của một trung gian tài chính, nên các nhu cầu về vốn của tất cả các cá nhân và tô chức đều được các NHTM xử lý hiệu quả hơn nhiều so với các nguồn khác trên thị trường tài chính.
Nhưng dé các NHTM đáp ứng được tat cả các nhu cầu về vốn trong nền kinh tế thì trước hết đòi hỏi bản thân NHTM phải xử lý tốt công tác huy động vốn. Việc tổ chức công tác huy động vốn càng chuyên nghiệp và hiệu quả thì nguồn vốn huy động càng hiệu quả, từ đó nâng cao hiệu quả các hoạt động cho vay và đầu tư của NH, đáp ứng tốt các nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển trong nền kinh tế. Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển càng lớn, thì càng đòi hỏi công tác huy động vốn của NHTM phải được tăng cường. Thứ ba, Giúp NHTW kiểm soát có hiệu quả lưu chuyển tiền tệ trong nên kinh tế Kiểm soát tình hình lưu chuyền tiền tệ trong nền kinh tế là chức trách của NHTW và NHTW thông qua việc thực thi chính sách tiền tệ của mình dé kiểm soát nó.
Song chính sách tiền tệ của NHTW muốn phát huy được hiệu quả thì phải thông qua kênh trung gian là các TCTD, trong đó quan trọng là các NHTM. Các dòng lưu chuyên vốn trong nền kinh tế thường rất đa dạng và phức tạp, chúng cần được kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm theo định hướng chính sách chung, nâng cao hiệu quả nguồn vốn tiền tệ trong nền kinh tế và quan trọng hơn cả là không để cho các dòng tiền vận động theo các khuynh hướng đầu cơ trên các thị trường tài chính, tạo ra các hệ quả không mong đợi đối với môi trường kinh tế vĩ mô. Tất cả các yêu cầu này sẽ được xử lý hiệu quả thông qua kênh huy động vốn của các NHTM. Thực tế chứng minh rằng nếu như hệ thống NH hoạt động hiệu quả, tất cả các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế được huy động về hệ thống NH thì sẽ ít có khả năng xảy ra các hoạt động đầu cơ khiến thị trường tài chính luôn diễn biến phức tạp.