CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀi CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Lý luận chung về nguồn lực tài chính 1. Khái niệm nguồn lực tài chính. Nguồn lực kinh tế gồm: nhân lực, vật lực, tài lực.
Kinh tế học hiện đại chia nguồn lực kinh tế gồm 4 yếu tố: nhân lực, vật lực, tài lực, khoa học công nghệ và quản lý. Nguồn lực tài chính: là sản phẩm xã hội được biểu hiện dưới hình thức giá trị. Nguồn lực tài chính là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ được hình thành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong phân phối nhằm đáp ứng các yêu cầu chi tiêu bằng tiền để thực hiện quá trình tái sản xuất các mặt hoạt động của các chủ thể trong xã hội. Phân loại nguồn lực tài chính.
Có nhiều cách phân loại Nguồn lực tài chính tùy theo mục đích sử dụng: quy mô hình thành, phương thức tạo ra thu nhập, chủ thể kinh tế và hình thái biểu hiện. Căn cứ vào quy mô hình thành, nguồn lực tài chính bao gồm: NLTC loại 1: Ngân sách Nhà nước. NLTC loại 2: Ngân sách Nhà nước + Vốn ngoài Ngân sách. NLTC loại 3: NLTC loại 2 + NLTC từ Ngân hàng - Tổ chức tín dụng.
NLTC loại 4: NLTC loại 3 + NLTC trong dân. NLTC loại 5: NLTC loại 4 + NLTC từ nước ngoài. Căn cứ vào phương thức tạo ra thu nhập, nguồn lực tài chính bao gồm: NLTC khu vực công. NLTC khu vực tài chính: nguồn lực tài chính tại các tổ chức trung gian tài chính: Ngân hàng, Tổ chức tín dụng, Bảo hiểm, Chứng khoán… 10 NLTC khu vực phi tài chính: nguồn lực tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất.
NLTC khu vực khác bao gồm: Hộ gia đình và tổ chức vô vị lợi. Căn cứ theo chủ thể kinh tế, nguồn lực tài chính bao gồm: NLTC khu vực công. NLTC trong doanh nghiệp. NLTC của các Hộ gia đình.
Căn cứ theo hình thái biểu hiện, bao gồm: NLTC hữu hình: có hình thái biểu hiện cụ thể. NLTC vô hình: không có hình thái biểu hiện cụ thể. Các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn lực tài chính. NLTC trong nền kinh tế chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau: Thứ nhất, mức độ phát triển của sức sản xuất xã hội.
Mức độ phát triển của sức sản xuất xã hội được đánh giá bởi tổng lượng của cải vật chất mà toàn xã hội đã tạo ra được trong một thời kỳ. Tổng lượng này càng lớn thì tổng nguồn lực tài chính sẽ càng lớn và ngược lại. Thứ hai, mức độ hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội. Mức độ hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội hay hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế được xem xét thông qua một số chỉ tiêu như: tỷ suất doanh lợi, tỷ suất vốn- sản lượng tăng thêm thông qua chỉ số ICOR, TFP: Năng suất các nhân tố tổng hợp.
Thứ ba, mức độ phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học kỹ thuật của mỗi quốc gia. Mức độ phát triển giáo dục đào tạo của mỗi quốc gia xét trên bình diện chung toàn xã hội được đánh giá thông qua tỷ lệ số người có trình độ học vấn ở các cấp học khác nhau trên tổng số dân, phản ánh trình độ dân trí của một dân tộc. Ngoài ra còn được phản ánh ở tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, lao động có chuyên môn cao. Đây là nhân tố quyết định đến chất lượng của đội ngũ người lao động, quyết định đến năng suất lao động, nâng cao sức sản xuất và hiệu quả của nền sản xuất xã hội, nhân tố làm tăng tổng nguồn lực tài chính.
11 Thứ tư, chính sách nguồn lực tài chính hợp lý. Chính sách nguồn lực tài chính là một chính sách quan trọng trong chính sách tài chính quốc gia. Chính sách này bao gồm: khai thác và huy động nguồn lực tài chính; phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính; chuyển giao nguồn lực tài chính, giám sát, kiểm soát và điều tiết và quản lý nguồn lực tài chính. Lý luận chung về huy động nguồn lực tài chính tại ngân hàng thương mại.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò huy động nguồn lực tài chính tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động nguồn lực tài chính tại ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung gian tài chính lại được phân chia khác nhau. Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung là các ngân hàng thương mại đóng góp khối lượng tài sản và đóng vai trò chủ đạo đối với các hoạt động của nền kinh tế.
NLTC là cơ sở để ngân hàng tổ chức hoạt động kinh doanh; NLTC không chỉ là điều kiện để kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. NLTC của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. NLTC của ngân hàng được hình thành qua các nguồn khác nhau. Để bắt đầu hoạt động của ngân hàng thì chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, được gọi là vốn ban đầu.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng khối lượng vốn của mình thông qua các hoạt động huy động vốn như nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ đi vay và các nghiệp vụ khác (dịch vụ uỷ thác, trung gian thanh toán,…) NLTC huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác…Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại, nó đóng vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đặc điểm huy động nguồn lực tài chính tại ngân hàng thương mại. 12 Trong tổng NLTC của một ngân hàng, vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần rất nhỏ, còn đại bộ phận là nguồn vốn huy động từ các đối tượng khác nhau. Phải có vốn huy động ngân hàng mới có thể hoạt động bình thường và phát triển bởi chức năng chủ yếu của nguồn vốn chủ sở hữu là bảo vệ an toàn và điều chỉnh hoạt động ngân hàng.
Quá trình hoạt động kinh doanh các ngân hàng dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu để đưa ra các quyết định kinh tế cho phù hợp với các quy định của luật pháp. Còn nguồn vốn được sử dụng vào các hoạt động kinh doanh sinh lời của một ngân hàng chính là từ vốn huy động. Nguồn vốn huy động càng nhiều ngân hàng càng có khả năng cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng cũng như làm giàu cho ngân hàng. Do đó, chỉ với vốn huy động ngân hàng mới có thể làm tốt chức năng trung gian tín dụng - chức năng quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng còn lại.
Ngân hàng muốn hoạt động trước hết phải có vốn. Nhu cầu về vốn của ngân hàng được đáp ứng từ những nguồn vốn sau: Vốn tự có Nguồn vốn tự có của ngân hàng được hình thành từ hai bộ phận: Vốn điều lệ: Là số vốn ban đầu của ngân hàng, là tiêu chuẩn để một ngân hàng thành lập và đi vào hoạt động: Về quy mô thì vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định (vốn do Nhà nước quy định). Tuy nhiên với mỗi loại hình hoạt động khác nhau của từng ngân hàng thì vốn điều lệ cũng có nguồn hình thành khác nhau. Vốn điều lệ nói lên sức mạnh và khả năng hoạt động ban đầu của một ngân hàng.
Vốn tự có bổ sung: Được hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng thông qua việc trích lập các quỹ. Hàng năm ngân hàng căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh của mình mà trích một phần lợi nhuận bổ sung vào nguồn vốn tự có của ngân hàng. Nguồn lực tài chính vay từ trung ương 13 Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại dưới nhiều hình thức như: cho vay, mua bán, chiết khấu, tái chiết khấu đối với các giấy tờ có giá trị của ngân hàng thương mại. NLTC hình thành từ nguồn này đảm bảo cho khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại.
Nguồn lực tài chính điều hoà trong hệ thống Các ngân hàng thương mại có nhiều chi nhánh nằm trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các chi nhánh trong cùng một hệ thống. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do trên mỗi địa bàn có những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do đó nó tác động đến NLTC và khả năng sử dụng của từng chi nhánh. Nguồn lực tài chính huy động Đây là NLTC quan trọng nhất của một ngân hàng thương mại. NLTC huy động có nhiều hình thức khác nhau.
Từ dân cư, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp trên địa bàn hoặc trên toàn quốc. Bên cạnh đó còn có thể đẩy mạnh huy động từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp liên doanh liên kết với nước ngoài,… Đây là nguồn vốn rất đa dạng và quan trọng đối với ngân hàng cho nên cần phải chú ý cũng như nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn này. Vai trò huy động nguồn lực tài chính đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Thứ nhất, NLTC là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Khác với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, hoạt động của ngân hàng có những đặc trưng riêng, NLTC không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn). Quá trình kinh doanh tiền tệ của ngân hàng được mã hoá bằng công thức T-T’, trong đó T là nguồn vốn bỏ ra ban đầu, T’ là nguồn vốn thu về sau một quá trình đầu tư, tiến hành hoạt động kinh doanh: T’>T. Từ công thức này, có thể khẳng định ngân hàng nào trường vốn là ngân hàng 14 có nhiều thế mạnh trong cạnh tranh.
Vì vậy, ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn điều lệ) theo quy định thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.