Đặt vấn đề Nông nghiệp và lâm nghiệp là hai bộ phận chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, có vai trò và vị trí to lớn trong sự phát triển của đất nước.Trong thời đại xu thế hội nhập là tất yếu như hiện nay sự cạnh tranh trong nội bộ ngành và với bên ngoài khá gay gắt. Để nông nghiệp và lâm nghiệp Việt Nam ngày một phát triển, có khả năng cạnh tranh với hàng hóa các nước thì yêu cầu đặt ra là người dân phải có kiến thức về sản xuất, chăm sóc cây trồng, vật nuôi, nắm được yêu cầu và quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn, các thông tin thị trường… Một trong những kênh thông tin giúp người dân có được những điều đó là hệ thống tổ chức KNKL. Công tác KNKL đem lại nhiều lợi ích thiết thực thấy rõ như: Góp phần nâng cao nhận thức cho người nông dân về chủ trương, chính sách pháp luật, kiến thức, kĩ năng về khoa học kĩ thuật, quản lý, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả cây trồng vật nuôi, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. KNKL là hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật về nông nghiệp nông thôn và phổ biến kinh nghiệm về sản xuất, quản lý kinh tế, cơ chế chính sách, giá cả thi trường.
Nhằm giúp cho người dân có đủ khả năng tự giải quyết các vấn đề của bản thân và cộng đồng, thúc đẩy nông nghiệp phát triển, cải thiện đời sống và xây dựng nông thôn mới. Ngày 02/03/1993 Chính phủ nước ta đã ban hành Nghị định 13/CP về “Quy định công tác khuyến nông” và thông tư liên bộ 02/TTLB ra ngày 02/08/1993, hưỡng dẫn thi hành Nghị định 13/CP, về việc thành lập hệ thống KNKL từ Trung ương đến địa phương. Hiện nay, các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp ngày càng 2 đa dạng, phát triển theo hướng hàng hóa nên các nhu cầu về dịch vụ khuyến nông khuyến lâm ngày càng cao. Đòi hỏi đội ngũ CBKN phải hiểu biết sâu rộng và có nhiều kĩ năng để thực hiện các phương pháp khuyến nông một cách có hiệu quả.
Như vậy, khuyến nông đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay. Trong đó hoạt động sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất nhiều từ công tác KNKL. Nghị định 56/2005/NĐ - CP ra đời đã quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức KNKL (nhất là tổ chức KNKL cơ sở), mục tiêu, nguyên tắc, chính sách và nội dung hoạt động khuyến nông (bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về KNKL), mở rộng đối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác KNKL. Sau 5 năm thực hiện nghị định 56/2005/NĐ - CP vẫn còn nhiều bất cập.
Do vậy, ngày 08/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ - CP về khuyến nông để sửa đổi, bổ sung một số nội dung. Trong nghị định này quy định cụ thể hơn về nội dung hoạt động KNKL bao gồm: Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo cho người sản xuất và người hoạt động KNKL, thông tin tuyên truyền, trình diễn và nhân rộng mô hình, tư vấn và dịch vụ KNKL, hợp tác quốc tế về KNKL. Tổ chức KNKL từ Trung ương tới địa phương cũng được quy định rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế quản lý. Các chính sách KNKL cũng được điều chỉnh trong quy định này, đặc biệt bổ sung các chính sách đối với đội ngũ CBKN cơ sở.
Trong những năm gần đây hoạt động kinh tế xã hội của người dân tại xã Nghĩa Đô đã có những thay đổi lớn nhằm đáp ứng các nhu cầu của chính gia đình họ. Sự thay đổi về điều kiện ngoại cảnh, cơ chế chính sách đã làm cho người dân có những thay đổi thích hợp với hoàn cảnh sống. Đây là cơ sở để áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào lao động sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động cho người dân mà công tác khuyến nông chính là cầu 3 nối giúp người dân có nhưng định hướng đúng đắn nhất trong các hoạt động sản xuất. Công tác KNKL tại địa phương nhiều năm qua đã có sự thay đổi nhưng vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn và còn những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện.
Do vậy đánh giá tác động của công tác KNKL để thấy được những tác động của nó cũng như thấy được những tồn tại, hạn chế, nhưng bất cập của của công tác KNKL để từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường hiệu quả của công tác KNKL. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã chọn xã Nghĩa Đô huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai để thực hiện đề tài: "Thực trạng và giải pháp cho các hoạt động KN-KL của xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai" 1. Mục đích nghiên cứu Phân tích thực trạng hoạt động của công tác KNKL và những tác động của nó tới hoạt động kinh tế xã hội của xã trong những năm gần đây, đề xuất những giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh công tác khuyến nông khuyến lâm của xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Mục tiêu nghiên cứu - Phân tích được cơ cấu tổ chức bộ máy hệ thống KNKL và các hoạt động KNKL tại xã Nghĩa Đô đến hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp của người dân trong những năm gần đây.
- Đánh giá được hiệu quả của công tác KNKL tới các hoạt động kinh tế xã hội của người dân tại xã Nghĩa Đô huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai. - Phân tích được những khó khăn và thuận lợi trong hoạt động KNKL trên địa bàn. - Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động KNKL tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Thông qua quá trình thực hiện đề tài giúp cho sinh viên củng cố kiến thức thực tế đã học trong trường và ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn. - Giúp bản thân có khả năng độc lập tiến hành các nghiên cứu thu thập số liệu, phân tích số liệu và viết báo cáo khoa học. Ý nghĩa thực tiễn - Từ kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho các nhà quản lý, các cán bộ KNKL có những căn cứ để lựa chọn phương pháp KNKL phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động KNKL đồng thời cải thiện đời sống người dân trong xã. 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học về KNKL * Một số thuật ngữ về KNKL. Theo tổ chức FAO: “KNKL được xem như một tiến trình của việc hòa nhập các kiến thức bản địa với kiến thức khoa học hiện đại. Các quan điểm, kĩ năng để quyết định cái gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để có khả năng vượt qua các trở ngại gặp phải” (Nhóm các môn học khuyến nông khuyến lâm, 2004).
Theo nghĩa Hán-Văn: “Khuyến” có nghĩa là khuyên người ta cố gắng trong công việc còn “khuyến nông” nghĩa là khuyên mở mang phát triển trong nông nghiệp (Nguyễn Hữu Thọ, 2006). Theo Thomas: “Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc liên quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó có người già và người trẻ học bằng cách thực hành” (Nguyễn Hữu Thọ, 2006). Khuyến lâm là một quá trình chuyển giao kiến thức , đào tạo kĩ năng và những điều kiện vật chất cho nhân dân để họ đủ khả năng quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng của cộng đồng. Ở Việt Nam, khuyến nông được hiểu là một hệ thống các biện pháp giáo dục không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới.
6 Còn theo định nghĩa của Trung tâm khuyến nông khuyến lâm quốc gia thì: Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ thông tin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kĩ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, những thông tin về thị trường giá cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống, của bản than họ và cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống và phát triển nông nghiệp nông thôn. Như vậy, KNKL là một hoạt động thông tin truyền bá những chủ trương trong chính sách về nông nghiệp của nhà nước, những kiến thức về nông lâm nghiệp: Kinh nghiệm, kĩ thuật, tổ chức và quản lý sản xuất, những thông tin về thị trường và rèn luyện tay nghề cho nông dân làm cho họ có khả năng tự giải quyết được các vấn đề của sản xuất, cải thiện đời sống của gia đình họ. * Các văn bản pháp quy của Nhà nước về công tác KNKL. Ngày 02/03/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 13/CP về: “Quy định công tác khuyến nông” và thông tư liện tịch 02/LB/TT ngày 02/08/1993 hưỡng dẫn thi hành Nghị định 13/CP.
Nội dung chủ yếu của nghị định này tập trung vào các vấn đề sau: - Thành lập hệ thống KNKL trên phạm vi toàn quốc từ TW đến cấp huyện với biên chế nhà nước. - Khuyến khích các tổ chức KNKL tự nguyện của các tổ chức kinh tế xã hội của tư nhân trong và ngoài nước. - Căn cứ vào những tiến bộ KHKT, căn cứ vào tình hình sản xuất và đời sống, nhu cầu của thị trường mà xây dựng chương trình KNKL đến từng vùng sinh thái. Ngày 26/04/2005 thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2005/NĐ-CP thay thế nghị định 13 trước đó.
Sự ra đời của Nghị định 56 7 đã đặt ra yêu cầu của thực tế sản xuất nông nghiệp của nước ta trong tình hình mới, là kim chỉ nam cho hoạt động khuyến nông đồng thời đòi hỏi khuyến nông Việt Nam phải vươn lên nữa góp phần vào sự phát triển của nông nghiệp nông thôn. Ngày 08/01/2010 thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 02/2010/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 56/2005/NĐ-CP để phù hợp hơn trong tình hình hiện nay.