Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN MẠNG VIỄN THÔNG 1. Đặc điểm ngành kinh doanh viễn thông Ngành viễn thông là một trong các ngành kinh doanh đặc thù. Kinh doanh viễn thông là hoạt động truyền đưa thông tin nhằm mục tiêu sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông. Sản phẩm dịch vụ viễn thông là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa thông tin.
Các sản phẩm dịch vụ của ngành viễn thông bao gồm: dịch vụ điện thoại, điện báo, fax, truyền số liệu, IPTV, internet. Đặc điểm mạng thông tin viễn thông a. Tính hoàn chỉnh: Mạng viễn thông là một chỉnh thể, là một lực lượng sản xuất chỉ có thể thể hiện dưới hình thức một chỉnh thể. sản phẩm viễn thông là sản phẩm hoàn chỉnh, không có bán thành phẩm, sản phẩm dở dang.
Tính hệ thống: Mạng viễn thông là một chỉnh thể mang tính hệ thống, không phải là sự tích góp loạn xạ các loại thiết bị, các loại yếu tố hợp thành mạng, mà là sự tổ hợp có trật tự các yếu tố đó, thiết bị đó. Điều này thể hiện đầy đủ là tổng thể không ngang bằng với phép cộng đơn thuần. Ví dụ Tổng đài có dung lượng 1000 số nhưng dung lượng truyền dẫn chỉ thảo mãn 500 line thì mạng viễn thông cũng chỉ sản xuất được 500 đường điện thoại và ngược lại. Như vậy năng lực sản xuất của mạng không phải là phép cộng đơn thuần năng lực của các thiết bị trên hệ thống mà nó được xác định bởi năng lực phù hợp đảm bảo các thiết bị đều hoạt động được tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh.
Tính cấp bậc: Một nội dung bao hàm của tính hệ thống là tính cấp bậc. Một hệ thống phức tạp thì trong nội bộ của nó có thể phân ra nhiều cấp bậc. Xét về điện thoại, hình thái tổ chức của nó là theo cấp bậc (hay từng nấc), trung tâm các cấp đều đặt tại thiết bị chuyển mạch, các trung tâm của mỗi cấp hội tiếp vào trung tâm cấp cao hơn, nhưng khi lượng nghiệp vụ đã đủ, có thể vượt qua một cấp, thậm trí mấy cấp, nối thẳng đến các hướng cần thiết. Hình thức mạng này được gọi là hội tiếp bức xạ (còn gọi là hình sao).
Điều này được thấy rõ qua mô hình tổ chức mạng thông tin gồm: Các tổng đài trung tâm (gọi là HOST), các tổng đài vệ tinh, hệ thống mạch vòng truyền dẫn RING cấp I, cấp II.hệ thống mạng cáp gốc, hệ thống mạng cáp phát triển thuê bao. Tính tỷ lệ: Một nội dung bao hàm khác của tính hệ thống là tính tỷ lệ. Đó là giữa các bộ phận hợp thành phải có một tỷ lệ hợp lý thì toàn hệ thống mới được vận hành một cách có hiệu quả hay có hiệu quả cao. Tỷ lệ trong mạng viễn thông nói chung là có tỷ lệ giữa dây và máy, tỷ lệ giữa đường dài thành thị với đường dài nông thôn, tỷ lệ chiếm dụng thực tế các loại đường dây, tỷ lệ thiết bị hoạt động trên mạng và thiết bị dự phòng.
Tính liên tục: Sản xuất thông tin đòi hỏi phải liên tục, không được gián đoạn. Sức sản xuất thông tin phải liên tục về mặt thời gian, điều đó yêu cầu bản thân mạng lưới và thiết bị thông tin đều phải có độ ổn định và tin cậy cao. Việc đầu tư thiết bị cho việc vận hành trực tiếp còn có một tỷ lệ thiết bị dự phòng tại chỗ để đảm bảo thay thế ứng cứu ngay lập tức khi có sự cố sảy ra. Đặc điểm kinh doanh viễn thông a.
Tính vô hình: Sản phẩm viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới, sản phẩm cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, sản phẩm viễn thông thể hiện dưới dạng 4 dịch vụ. Để tạo ra sản phẩm viễn thông cần có sự tham ra của các yếu tố sản xuất: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Đối tượng lao động viễn thông là những tin tức như bản Fax, cuộc đàm thoại, các bài báo điện tử, thương mại điện tử, dữ liệu truyền tin… Các doanh nghiệp viễn thông thực hiện dịch vụ truyền các tin tức từ người gửi đến người nhận. Tuy nhiên, trong quá trình truyền đưa tin tức đối tượng lao động viễn thông không chịu sự thay đổi nào ngoài sự thay đổi vị trí không gian, và đây là đặc điểm khác các ngành khác khi mà lao động tác động vào đối tượng lao động là thay đổi hình thái, tính chất của chúng tạo ra sản phẩm mới.
Quá trình sản xuất kinh doanh viễn thông mang tính dây truyền: Để tạo ra một dịch vụ viễn thông hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận thường có từ hai hay nhiều cơ sở viễn thông tham gia, mỗi cơ sở chỉ chịu trách nhiệm thực hiện một giai đoạn nhất định của quá trình truyền đưa tin tức hoàn chỉnh đó. Do đó, cần có quy định thống nhất về thể lệ, thủ tục khai thác các dịch vụ viễn thông, các quy trình khai thác, bảo dưỡng thiết bị thông tin, chính sách đầu tư phát triển mạng lưới một cách phù hợp, thống nhất. Đây là đặc điểm quan trọng chi phối đến công tác tổ chức, quản lý hoạt động viễn thông. Chính vì đặc điểm này mà hiện nay VNPT thực hiện hạch toán tập trung toàn ngành.
Tính không tách rời: thể hiện quá trình cung ứng và hưởng thụ sản phẩm diễn ra đồng thời. Trong ngành viễn thông, quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm dịch vụ viễn thông không tách rời và không lưu trữ được. Đặc điểm này khác với các ngành công nghiệp, sản phẩm sản xuất ra được đưa vào kho, sau đó thông qua mạng lưới phân phối để cuối cùng đến tay người tiêu dùng.
Do quá trình tiêu thụ sản phẩm không tách rời quá trình sản xuất nên yêu cầu chất lượng sản phẩm viễn thông phải đảm bảo về tiêu chuẩn chất lượng và độ ổn định nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp 5 đến người tiêu dùng vì họ không có cơ hội kiểm tra hay từ chối mua sản phẩm như những sản phẩm khác. Người tiêu dùng dù muốn hay không muốn cũng vẫn phải tiêu dùng sản phẩm ngay khi sản xuất ra. Bên cạnh đó thì một sản phẩm truyền tin được thực hiện theo một trật tự nhất định, có điểm đầu và điểm kết thúc và có trật tự truyền tin trên hệ thống mạng. Tải trọng không đồng đều theo thời gian và không gian: Nhu cầu truyền tin tức của khách hàng rất đa dạng, phong phú xuất hiện không đồng đều theo thời gian (các giờ trong ngày, trong tuần, tháng…) cũng như theo không gian (nhu cầu truyền đưa tin tức xuất hiện ở mọi vùng, mọi miền, mọi quốc gia, mọi nơi trên trái đất).
Tính không đồng đều ở không gian và thời gian về nhu cầu sử dụng, tức là tải trọng không đồng đều trong các doanh nghiệp viễn thông. Điều này đồi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông phải có các chính sách kinh doanh, giải pháp kỹ thuật phù hợp nhằm sản tải, vận hành tốt hệ thống vào giờ cao điểm cũng như khai thác có hiệu quả năng lực mạng lưới vào giờ thấp điểm. Dự án đầu tư phát triển mạng viễn thông Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006, dự án đầu tư được hiểu là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Như vậy dự án đầu tư phát triển mạng viễn thông được hiểu là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn của Doanh nghiệp để tiến hành đầu tư vào cơ sở hạ tầng mạng viễn thông.
Mục tiêu dự án đầu tư phát triển mạng viễn thông Năng lực mạng lưới của một doanh nghiệp viễn thông thể hiện sức sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh, khả năng cung ứng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường. 6 Trước đây, khi mà chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là VNPT được phép cung cấp dịch vụ viễn thông cho tất cả mọi đối tượng và trên phạm vi toàn quốc thì mục tiêu của dự án đầu tư phát triển mạng viễn thông chỉ đơn thuần là mở rộng phạm vi phục vụ, đáp ứng ngày càng nhiều hơn nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông trên cơ sở năng lực đầu tư của VNPT. Chính vì chỉ có một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông nên đã từng xảy ra tình trạng người sử dụng phải phụ thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ. Ngày nay khi thị trường viễn thông đã không còn thế độc quyền, ngày càng nhiều doanh nghiệp được phép tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Lúc này mục tiêu đặt ra đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông là: - Củng cố và phát triển thương hiệu doanh nghiệp trên địa bàn hoạt động. - Giữ vững thị phần và ngày càng gia tăng lượng khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. - Thỏa mãn ngày càng tốt hơn chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa loại hình dịch vụ, cung cấp cho khách hàng ngày càng nhiều dịch vụ gia tăng, tiện ích mới. Để đạt được mục tiêu trên, các doanh nghiệp phải đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường năng lực hệ thống thiết bị viễn thông, nâng cao chất lượng dịch vụ (tín hiệu, đường truyền.) qua việc thực hiện các dự án đầu tư phát triển mạng viễn thông.
Lúc này, các doanh nghiệp sẽ phải nhìn nhận lại vai trò quan trọng của các dự án đầu tư phát triển mạng viễn thông. Nếu doanh nghiệp không dự đoán được nhu cầu hay không đầu tư kịp thời thì sẽ dẫn đến một lượng không nhỏ khách hàng sẽ nhanh chóng chuyển sang sử dụng dịch vụ do một doanh nghiệp khác cùng cung cấp, doanh nghiệp mất đi cơ hội mở rộng thị trưởng, tăng trưởng doanh thu. Đặc điểm dự án đầu tư phát triển mạng viễn thông Do ngành viễn thông là một trong các ngành kinh doanh đặc thù nên nó có những đặc điểm riêng và kéo theo đó là các dự án đầu tư trong lĩnh vực viễn thông cũng có những điểm khác biệt riêng.