đặt vấn đề phải đảm bảo các dữ liệu phải được truyền tải đến bất kỳ nơi nào trong mạng máy tính của mình trong những trường hợp có sự cố về đường truyền và mạng cho phép bất kỳ máy tính nào trên mạng đều liên lạc được với mọi máy tính khác và chính điều này đã dẫn đến sự ra đời của mạng internet, nhưng nó thực sự ra đời vào năm 1974 khi Giáo sư Vint Cerf thuộc đại học California cài đặt một mã chung cho tất cả các máy tính cho mạng này của Bộ Quốc phòng và đặt tên là internet. Năm 1989 dịch vụ internet phát triển rộng rãi tại châu Âu với tốc độ phát triển rất nhanh trở thành dịch vụ mang tính toàn cầu, là một phương tiện hết sức tiện lợi đối với mọi tổ chức và cá nhân. Vai trò của dịch vụ internet ngày càng được khẳng định cùng với sự ảnh hưởng sâu rộng của nó đến đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của toàn thế giới. Dịch vụ internet xuất hiện tại Việt Nam bắt đầu từ tháng 05/1997.
Phân loại dịch vụ viễn thông. Phân loại theo loại doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Theo loại doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thì dịch vụ viễn thông bao gồm: * Dịch vụ điện thoại cố định là một loại hình dịch vụ viễn thông gồm các dịch vụ: + Dịch vụ điện thoại nội hạt: là dịch vụ thông tin liên lạc bằng mạng điện thoại cố định được thiết lập trong phạm vi địa giới hành chính của một Tỉnh/Thành phố. + Dịch vụ điện thoại liên tỉnh: là cuộc gọi điện thoại được thiết lập giữa một máy điện thoại thuộc một tỉnh hoặc thành phố này đến một máy điện thoại thuộc một tỉnh hoặc thành phố khác và ngược lại, thông qua mạng viễn thông liên tỉnh. + Dịch vụ gọi điện thoại đi quốc tế: là dịch vụ điện thoại cho phép người gọi tự quay số trên máy điện thoại đến một thuê bao ở nước khác.
* Dịch vụ điện thoại di động: là dịch vụ thông tin vô tuyến hai chiều cho phép thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ có thể sử dụng các loại hình dịch vụ thoại và phi thoại trong phạm vi vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ. Dịch vụ điện thoại di động là một dịch vụ liên lạc, bao gồm hai loại đó là dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng. + Dịch vụ cơ bản là dịch vụ truyền thông tin của người nói đến người nghe qua hệ thống tổng đài di động hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin. Loại dịch vụ này trong kinh doanh được gọi là dịch vụ ”thoại”.
+ Dịch vụ giá trị gia tăng là dịch vụ tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin trên cơ sở sử dụng mạng thông tin di động hoặc internet. * Dịch vụ internet: là một loại hình dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ truy nhập Internet, dịch vụ kết nối Internet và dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông. + Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập đến Internet. + Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau để chuyển tải lưu lượng Internet trong nước giữa các tổ chức, doanh nghiệp đó.
7 + Dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông là dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng được cung cấp cho người sử dụng thông qua mạng lưới thiết bị Internet. Phân loại theo đặc tính dịch vụ: Theo đặc tính của dịch vụ thì dịch vụ viễn thông bao gồm: * Dịch vụ viễn thông cơ bản: là dịch vụ truyền đưa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình, nội dung thông tin được gửi và nhận qua mạng. Dịch vụ viễn thông cơ bản gồm: + Dịch vụ viễn thông cơ bản trên mạng điện thoại công cộng gồm: dịch vụ điện thoại, dịch vụ Fax, và dịch vụ truyền số liệu trong băng thoại tiêu chuẩn(0. + Dịch vụ điện báo là dịch vụ truyền đưa tin tức dưới hình thức chữ viết (văn bản) từ người này đến người khác thông qua mạng viễn thông công cộng.
+ Dịch vụ Telex là một dịch vụ viễn thông thuộc loại hình điện báo nhưng thiết bị thu và phát điện báo được đặt tại trụ sở hoặc chính nhà riêng của người sử dụng được đấu nối vào tổng đài điện báo đặt tại các cơ sở Bưu điện. + Dịch vụ truyền số liệu là dịch vụ mà KH có thể yêu cầu liên lạc qua mạng viễn thông giữa các đối tượng: giữa máy tính với máy tính, máy tính với mạng máy tính, các mạng máy tính với nhau, các máy tính (hoặc mạng máy tính) với các CSDL để truy tìm tin tức. + Dịch vụ thông tin di động là dịch vụ thông tin vô tuyến điện được thiết lập nhằm đảm bảo liên lạc giữa các máy đầu cuối di động với nhau, giữa máy đầu cuối di động với các máy cố định và ngược lại. * Dịch vụ giá trị gia tăng: là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet.
* Dịch vụ cộng thêm: là dịch vụ được cung cấp thêm đồng thời cùng với dịch vụ cơ bản làm phong phú và hoàn thiện thêm dịch vụ cơ bản trên cơ sở các tính năng kỹ thuật của thiết bị hoặc khả năng phục vụ của doanh nghiệp viễn thông. 8 * Dịch vụ kết nối Internet: là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế. * Dịch vụ truy nhập Internet: là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập Internet. * Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông: là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông cho người sử dụng.
Dịch vụ ứng dụng internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác phải tuân theo các quy định pháp luật về bưu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đặc điểm của dịch vụ viễn thông. Kinh doanh dịch vụ viễn thông không hoàn toàn giống như kinh doanh các loại hàng hóa khác do dịch vụ viễn thông có những đặc điểm riêng, khác biệt với những sản phẩm vật chất, chính những đặc điểm này đã ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa các chọn hình thức cung cấp của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông. Khái quát đặc điểm của dịch vụ viễn thông ở một số điểm chính sau: 1.
Tính vô hình của dịch vụ viễn thông. Hoạt động kinh doanh các dịch vụ viễn thông như các dịch vụ điện thoại di động, điện thoại cố định và dịch vụ internet là hiệu quả của quá trình truyền đưa tin tức từ chủ thể này sang chủ thể khác hay nói cách khác hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông là nhằm thỏa mãn nhu cầu liên lạc và trao đổi thông tin của khách hàng, với kết quả là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức, biểu hiện là các thông tin được chuyển từ người gửi đến người nhận. Do vậy nó không phải là một vật phẩm cụ thể, khách hàng không thể nhìn thấy, không nghe thấy, không sờ thấy hay không ngửi thấy có nghĩa là các dịch vụ viễn thông không hấp dẫn trực tiếp đến các giác quan của khách hàng. Mục đích hoạt động kinh doanh các dịch vụ viễn thông là nhằm thỏa mãn nhu cầu liên lạc và trao đổi thông tin của khách hàng biểu hiện là các thông tin được truyền từ người gửi đến người nhận, vì vậy khi bán các dịch vụ viễn thông đòi hỏi nghệ thuật bán hàng cao hơn, cho nên trong việc lựa chọn hình thức cung cấp, doanh nghiệp cần phải kiểm soát được toàn bộ các hoạt động phân phối cung cấp dịch vụ của mình.
Quá trình tiêu dùng và cung cấp dịch vụ xảy ra đồng thời Quá trình tiêu dùng và cung cấp dịch vụ xảy ra đồng thời với sự tham gia của cả khách hàng và giao dịch viên, khi khách hàng đến quầy thì quá trình mua bán và tiêu dùng bắt đầu xảy ra đồng thời do vậy người giao dịch viên phải đóng hai vai: Khai thác viên và người bán hàng do đó chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào tâm trạng của các giao dịch viên, mối quan hệ giao tiếp giữa khách hàng và giao dịch viên có ảnh hưởng lớn đến tâm lý, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ, theo thống kê khoảng 70% các ý kiến phàn nàn của khách hàng về VNPT là do thái độ giao tiếp của các giao dịch viên. Các dịch vụ viễn thông không thể dự trữ được Các dịch vụ viễn thông không thể sản xuất hàng loạt trước để dự trữ đến khi có nhu cầu cao thì đem ra bán hoặc chuyển từ nơi có nhu cầu thấp đến nơi có nhu cầu cao để bán, trong khi đó thì nhu cầu của khách hàng lại không đồng đều giữa các giờ trong ngày, giữa các ngày trong tuần và giữa các địa phương khác nhau. Do vậy các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông phải nắm bắt được các quy luật của khách hàng để có kế hoạch phục vụ phù hợp, đồng thời phải có chính sách giá cước linh hoạt để điều chỉnh nhu cầu của khách hàng. Không phải các dịch vụ viễn thông đều cấp bách với tất cả các khách hàng.
Nhu cầu cấp bách là nhu cầu cần được đáp ứng ngay, khách hàng có thể vượt qua các cản trở để mua. Nhu cầu chưa cấp bách là nhu cầu có thể hoãn lại tiêu dùng sau, nếu rẻ, tiện lợi vui vẻ thì mua không thì thôi. Một loại dịch vụ viễn thông có thể là cấp thiết đối với nhóm khách hàng này nhưng lại không hề cấp bách đối với nhóm khách hàng kia, như điện thoại là nhu cầu tối thiểu đối với các nhà kinh doanh, quản lý vì họ có mối liên hệ công việc đa dạng trên phạm vi rộng. Tuy nhiên với nhóm đối tượng khác như sinh viên, chưa phải là nhu cầu cấp bách cho cuộc sống do vậy đối với những thứ chưa cấp bách thì cần có các chính sách khuyến khích, kích thích khách hàng sử dụng.
Chất lượng của dịch vụ viễn thông thường không xác định được một cách chính xác tại một thời điểm nhất định.