CHƯƠNG 1 Vai trò của KBNN trong quá trình kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách nhà nước Đứng trên giác độ trong thực tiễn KBNN là người xuất quỹ NS thì chi NSNN là việc sử dụng quỹ NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước, phát triển KT-XH, cho an ninh quốc phòng, cho phúc lợi công cộng, cho an sinh theo các nhiệm vụ mà NSNN phải trang trải bằngcác hình thức tổ chức chi thích hợp nhằm qua đó đảm bảo cho các khoản chi NS đáp ứng yêu cầu đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả. Do đó, trong quá trình thực hiện kiểm soát chi NSNN, nếu phát hiện được các vi phạm chính sách, chế độ quản lý tài chính, KBNN có quyền từ chối thanh toán. KBNN chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lệ của việc xuất tiền. Vì vậy, KBNN phải kiểm tra việc sử dụng kinh phí NSNN cấp cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, bảo đảm đúng mục đích, đúng chế độ định mức chi tiêu của nhà nước.
Công việc kiểm tra đó được KBNN thực hiện thông qua việc xem xét các hồ sơ, tài liệu chi thường xuyên NSNN trên các phương diện như dự toán NS được duyệt thẩm quyền chuẩn chi, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi của nhà nước. Như vậy, trong quá trình quản lý và điều hành NSNN, KBNN không thụ động thực hiện theo các lệnh của CQTC, hoặc đơn vị thụ hưởng NS một cách đơn thuần. Ngược lại, KBNN hoạt động có tính độc lập tương đối, theo cơ chế tác động trở lại đối với các cơ quan, đơn vị này. Thông qua đó, KBNN có thể bảo đảm tính chặt chẽ trong quá trình sử dụng công quỹ nhà nước, đặc biệt trong khâu mua sắm, xây dựng, sữa chữa … Chính vì vậy, không những đã hạn chế được tình trạng lãng phí, thất thoát, tiêu cực mà còn bảo đảm cho việc sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, hợp pháp, tiết kiệm, có hiệu quả.
Đồng thời tham gia kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán góp phần chống tiêu cực, đề cao kỷ cương, kỷ luật quản lý tài chính, tiền tệ. Thông qua việc cấp phát, thanh toán các khoản chi của NSNN, KBNN còn tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình chi NSNN qua KBNN theo từng địa bàn, từng cấp NS và từng khoản chi chủ yếu. Từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về những kết quả đã đạt được, những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân cùng với các cơ quan hữu quan phối hợp nghiên cứu nhằm cải tiến và hoàn thiện cơ chế cấp phát, thanh toán và kiểm soát chi NSNN. 16 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NSNN CẤP HUYỆN Ở THANH OAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2012 – 2014 2.
Tổng quan về kinh tế - Tài chính tại huyện Thanh Oai – Tp Hà Nội 2. Thực trạng kinh tế - xã hội tại huyện Thanh Oai Thủ đô Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam. Hà Nội cũng là thành phố đứng thứ hai Việt Nam về diện tích đô thị và dân số sau thành phố Hồ Chí Minh. Phía bắc tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; phía nam tiếp giáp với các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình; phía đông tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ.
Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3. Dân số thủ đô Hà Nội tính đến năm 2010 là 6.900 người, mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km 2. Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2008, Hà Nội hiện có 29 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã - và 577 đơn vị hành chính cấp xã – bao gồm 401 xã, 154 phường và 22 thị trấn.
Huyện Thanh Oai là một huyện thuộc thành phố Hà Nội, phía Bắc và phía Tây Bắc giáp với quận Hà Đông (với sông Nhuệ chảy ở rìa phía Đông Bắc huyện, là ranh giới tự nhiên), phía Tây giáp huyện Chương Mỹ (với sông Đáy là ranh giới tự nhiên), phía Tây Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Đông Nam giáp huyện Phú Xuyên, phía Đông giáp huyện Thường Tín và phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Trì. Huyện Thanh Oai có huyện lỵ là thị trấn Kim Bài và 20 xã. Theo thống kê năm 2009, diện tích tự nhiên của huyện là 129,6km2, dân số là 175.1 Tình hình kinh tế xã hội Thanh Oai là một vùng quê với rất nhiều làng nghề như nón lá làng Chuông, quạt nan, mây tre, giang đan làng Vác, xã Cao Viên, làng Bình Đà xã Bình Minh ngày xưa rất nổi tiếng với nghề làm pháo. Gần chục năm trở lại, các khu công nghiệp mở ra thu hút nhiều lao động địa phương.
Do vị trí chỉ cách trung tâm Hà Nội không xa nên Thanh Oai sẽ tiếp tục phát triển. Hiện nay thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng nhiều dự án trên địa bàn huyện như trục đường phát triển phía nam, dự án đường vành đai 4, cụm công nghiệp Cao Viên Bình Đà…. Thanh Oai có nét đặc trưng của nền văn hóa đồng bằng Bắc Bộ với rất nhiều đình chùa cổ kính và những làng nghề lâu đời, đặc sắc nhất là làng làm nón lá ở Phương Trung (Làng Chuông), điêu khắc ở Võ Lăng (Dân Hòa), Dư Dụ (Thanh Thùy) cùng với nghề làm pháo tại Cao Viên, Thanh Cao và Bình Đà. Ngoài ra rải rác khắp huyện là nghề mây tre đan.
Làng chuông đã được công nhận là làng điển hình của văn hóa đồng bằng Bắc Bộ. Những đình chùa nổi tiếng là chùa Bối Khê, đình Bình Đà v.v… Tôn giáo chủ yếu là đạo Phật và Thiên chúa giáo. Hầu như mỗi làng đều có đình, chùa cổ kính. Trung tâm của Thiên chúa giáo trong vùng là nhà thờ Thạch Bích tại xã Bích Hòa và nhà thờ Từ Châu tại xã Liên Châu.
Quốc lộ 21B là huyết mạch giao thông của huyện, từ Hà Đông đi chùa Hương và sang Hà Nam, qua thị trấn Kim Bài. Quốc lộ 6 qua rìa phía Tây Bắc huyện, dự án đường trực phía nam Hà Nội đi xuyên qua huyện, ngoài ra còn có tỉnh lộ 71. Phía Đông Bắc có tuyến đường sắt vành đai phía Tây Hà Nội chạy qua, để tới ga Văn Điển. Hiện nay thành phố Hà Nội đang xây dựng trục đường phát triển phía Nam Hà Tây cũ, con đường nối đường Trần Phú – Hà Đông với quốc lộ 1A đoạn qua cầu rẽ.
Tuyến đường này sẽ liên thông Hà Đông với đường vành đai 4 và quốc lộ 1A. Con đường này sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của Thanh Oai trong tương lai. Con đường này sẽ đi qua các xã: Cự Khê, Mỹ Hưng, Thanh Thùy, Tam Hưng, Thanh Văn. Dự án đường vành đai 4 trong tương lai sẽ là một động lực lớn cho Thanh Oai phát triển.
Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2008 - 2014 18 Tổng giá trị sản xuất bình quân thời kỳ 2008 – 2014 đạt 1. Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 510 tỷ đồng; giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng ước đạt 876 tỷ đồng và giá trị các nghành dịch vị ước đạt 374 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2008-2014 là 14%. Trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 7,8% giá trị sản xuất công nghiệp xây dựng tăng 13,4% và dịch vụ là 18%.
Trong thời kỳ 2008-2014, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúng hướng, trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 29%; công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-xây dựng chiếm 49,8% và dịch vụ chiếm 21,2%. Kết quả đạt được Về lĩnh vực kinh tế: -Về nông nghiệp: tổng diện tích đất nước tự nhiên của huyện Thanh Oai gần 12.400ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp hơn 8.000 ha, đồng đất tương đối bằng phẳng, phì nhiêu, màu mỡ rất thuận lợi cho việc đầu tư phát triển sản xuất chủ đạo trong nền kinh tế của huyện. Sản xuất nông nghiện của huyện Thanh Oai phát triển theo hướng luân canh tăng vụ, nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi nhằm bảo đảm an ninh lương thực, tăng sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Điểm sáng trong sản xuất nông nghiệp cảu Thanh Oai trong những năm qua, huyện đã tích cực đưa cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất, áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học, chuyển giao kỹ thuật trồng lúa lai, lúa hàng hóa chất lượng cao nâng cao năng suất cây trồng, xóa bỏ những giống lúa dễ bị nhiễm sâu bệnh, kém năng suất.
Tỷ lệ sử dụng giống lúa lai năng suất co, giống lúa hàng hóa chiếm hơn 70% diện tích lúa gieo cấy. Tại các xã Thanh Văn, Tam Hưng, Bình Minh, Dân Hòa, Hồng Dương, những vùng trọng điểm lúa, diện tích sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao đang dần được mở rộng. Nhiều xã như Tam Hưng, Thanh Văn…. Diện tích sản xuất lúa hàng hóa lên trên 200ha.
Hàng năm, huyện Thanh Oai trích trung bình 1 tỷ đồng để hỗ trợ nông dân các xã, thị trấn phòng trừ sâu bệnh hại. Bên cạnh phát triển các cây lương thực chính là lúa, ngô và rau đậu, huyện Thanh Oai dành nhiều nguồn lực thu từ đất đầu tư bồi bổ cải tạo đất nông nghiệp 19 và thực hiện đồn điền đổi thửa. Đến nay, toàn huyện đã thực hiện được 4.072 ha (đạt 65%), chuyển đổi 1.115 ha đất lúa kém hiệu quả hình thành các trang trại chăn nuôi tập trung. -Về chăn nuôi: trong điều kiện gặp nhiều khó khăn như: dịch bệnh cúm gia cầm, lở mồm, long móng gia súc, dịch lợn tai xanh xảy ra liên tiếp, có tính chu kỳ theo mùa, yếu tố đầu vào chăn nuôi tăng, trực tiếp ảnh hưởng đến giá thành đầu ra của nghành chăn nuôi.
Song do sự tập trung chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền, phối hợp với các đoàn thể chính trị, xã hội, sự nổ lực của người dân, các ổ dịch được khống chế, dập tắt kịp thời, hạn chế thấp thiệt hại; đàn gia súc, gia cầm cơ bản ổn điịnh và tiếp tục phát triển. Để phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững, huyện Thanh Oai đã triển khai chương trình khuyến khích người dân áp dụng quy trình an toàn trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, như trồng rau an toàn, trồng trọt theo tiêu chí GAP, chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng an toàn sinh học.