CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ CHI THƯỜNG XUYEN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Hiện nay, ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý chỉ NSNN. Mỗi công trình nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những cách tiếp cận riêng về NSNN.
Có thé nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu được công bố và xoay quanh quản ly chi NSNN như sau: 1. Về cơ sở lý thuyết Key (1940) đã nhân mạnh rằng, cần xây dựng lý thuyết về điều hành NSNN và cho rằng, lý thuyết điều hành NSNN có vai trò quan trọng trong quan lý kinh tế vĩ mô cũng như trong lĩnh vực gia tăng hiệu quả phân bổ ngân sách của chính phủ. Theo đó, IMF đã nghiên cứu và theo đõi tình hình quan lý tài chính công ở nhiều quốc gia trong nhiều năm và nhận thấy cần xây dựng một khung lý thuyết về việc điều hành ngân sách quốc gia để định chuẩn cho quá trình đánh giá. Vi vậy, vào năm 1998, IMF đã biên soạn một Tai liệu có tên "Bộ Quy tắc minh bạch tài khóa", và sau đó đã được điều chỉnh và bổ sung vào các năm 2001 và 2007.
Bộ quy tắc này dé ra một số tiêu chuẩn mà IMF xem là các quy định tốt về minh bạch tài khóa trong 45 khía cạnh của hệ thống quản lý tài chính công, được nhóm thành bốn trụ cột: (i) Vai trò và trách nhiệm rõ rang về quản lý tài chính công; (1) Quy trình ngân sách mở; (iii) Công khai thông tin tài khóa; (iv) Dam bảo liêm chính, bao gồm van đề chất lượng dit liệu và giám sát bên ngoài. Về thực tiễn quản lý chỉ NSNN Kim (2013) đã đề cập đến đổi mới phương thức quản lý NSNN của Hàn Quốc, phân tích quá trình chuyển từ quan lý ngân sách theo khoản mục sang quản lý ngân sách theo chương trình. Trong nghiên cứu đã trình bay các nguyên tắc cơ bản và khung pháp lý căn bản liên quan đến việc thiết lập ngân sách theo chương trình, cùng với các điều kiện cần thiết dé Hàn Quốc chuyền từ quản lý ngân sách dựa trên đầu vào sang quản lý ngân sách dựa trên kết quả đầu ra. Kim (2013) cho rằng: “Quá frình quản lý ngân sách theo chương trình không chỉ thể hiện thông tin về các số liệu kế toán khô khan, mà còn là một công cụ hiệu quả để phân tích chính sách, đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý và đánh giá hiệu quả trong việc phân bồ nguồn luc".
Keith and Schick (2012) cũng đề cập đến vấn đề lập dự toán chi ngân sách quốc gia khi phân tích các hoạt động chuan bị xây dựng kế hoạch ngân sách Liên Bang. Nghiên cứu cho thấy quy trình xây dựng kế hoạch ngân sách tại Hoa Ky bao gồm sự tham gia của nhiều cơ quan và tổ chức. Ngoài Văn phòng quản trị Nhà Trắng, Hội đồng Cố vấn Kinh tế cho Tổng thống và Bộ Tài chính đóng vai trò tư vấn trong việc đưa ra quyết định về kế hoạch ngân sách. Spackman (2002) đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng và hiện đại của tài chính công, cung cấp dữ liệu về hệ thống tài chính đương đại của Pháp và Châu Âu.
Theo nghiên cứu, quy định ban đầu về ngân sách có thể được điều chỉnh lại bởi Quốc hội và Chính phủ. Có hai cách dé thực hiện sự điều chỉnh này: (1) Bằng các biện pháp can thiệp thông thường như sửa đổi luật tài chính; (2) Bằng các biện pháp can thiệp ngoại lệ như can thiệp định lượng ảnh hưởng đến khối lượng nguồn lực tài chính va can thiệp định tính. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và kinh tế năm 2008- 2009, Chính phủ Pháp đã điều chỉnh 4 luật liên quan đến tài chính. Tổng quan nghiên cứu trong nước 1.
Về cơ sở lý thuyết Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, đa số các nghiên cứu trong nước chi tập trung vào phân tích chính sách hoặc mô tả thực trạng quản lý chi NSNN, ít có nghiên cứu chuyên về lý thuyết quản lý chi NSNN. Vi vậy, luận văn chỉ nêu ra một số nghiên cứu tiêu biểu. Nguyễn Thị Lê Thu (2017) đã đưa ra nhận định qua nghiên cứu cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế về quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra có thé thay dé áp dung cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả dau ra, trước tiên cần nghiên cứu về khung logic và chuỗi kết quả về lập ngân sách theo kết quả đầu ra. Khung logic này cho thấy để quản lý theo kết quả, việc đầu tiên cần thực hiện là xác định mục tiêu/kết quả cần đạt được, từ đó xác định ngược trở lại đầu ra, các hoạt động cần thực hiện dé mang lại đầu ra đã xác định và ngân sách cần có để thực hiện các hoạt động cần thiết.
Đồng thời, cơ quan, đơn vi lập kế hoạch cũng phải xây dựng các chỉ số đánh giá kết quả (kế? qua tài chính; số lượng sản phẩm đâu ra; chất lượng dịch vu.) dé đánh giá hiệu qua của công việc thực hiện. Nguyễn Thị Minh (2008) đã làm rõ một số vấn đề lý thuyết liên quan đến quản lý chi NSNN phù hợp với kinh tế thị trường. Trong nghiên cứu, đã khái quát tình trạng quản lý chi NSNN của Việt Nam, bao gồm cả việc quan lý theo yếu t6 đầu vào kết hợp với quản lý theo chương trình mục tiêu, dự án và một phần quản lý theo kết quả dau ra (sử dung cơ chế khoán chỉ hành chính) trong khung thời gian ngắn. Trong luận án, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp dé đổi mới quan lý chi NSNN, với sự tập trung đặc biệt vào việc thúc đây triển khai quản lý chỉ NSNN theo kết quả đầu ra.
Về thực tiễn quản lý chỉ NSNN Dé đánh giá hiệu qua của chi thường xuyên NSNN tại Việt Nam. Dương Thị Bình Minh (2015) đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý chỉ tiêu công và tiễn hành phân tích thực trạng quản ly chi NSNN ở Việt Nam giai đoạn 1991-2004, chỉ rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân. Cuốn sách cũng đề xuất một tô hợp các giải pháp đổi mới chi tiêu công cho giai đoạn 2006-2010 như tăng cường tính minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình, nâng cao hiệu quả chi tiêu công. Dinh Thị Chinh (2014) đã làm rõ các tac động cua chi tiêu ngân sách đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát trong giai đoạn 2006-2010 và 2011- 2013 tại Việt Nam.
Ngoài ra, bài viết cũng phân tích tình trạng thâm hụt ngân sách hiện tại ở Việt Nam, đặc biệt chỉ ra những vấn đề đáng lưu ý như việc chi tiêu vượt quá thu, thâm hụt ngân sách dẫn đến tăng nợ công và sự giảm dần của cán cân ngân sách. Qua đó đã đưa ra một số giải pháp đề xuất để giải quyết van đề bội chi ngân sách, bao gồm việc kiểm soát nguồn chi và thay đôi cơ cấu chi. Tạ Đức Thanh (2013) đã phân tích nguồn thu NSNN trong những năm gần đây và đưa ra nhận định rằng nguồn thu có xu hướng giảm dan, trong khi chi tiêu công tăng đều qua các năm. Do đó, để giải quyết van đề bội chi NSNN, việc cắt giảm chi tiêu công là một giải pháp cần thiết.
Bài viết đề xuất một lộ trình trung hạn dé cắt giảm chi tiêu công theo hướng thay đổi tư duy về chi NSNN, rà soát các hoạt động có thể tiết kiệm trong nhóm chi tiêu không cần thiết (Chi thường xuyên), và quy định rõ quy trình và tiêu chí dé cắt giảm chi tiêu NSNN. Một bài viết khác bởi Hồ Công Minh (2014) đã trình bay thực trang NSNN, nợ công và chi thường xuyên ở Việt Nam giai đoạn 2006-2013. Qua đó nhấn mạnh: tình trạng bội chi NSNN ảnh hưởng không tốt đến phát triển KTXH. Bên cạnh đó cũng đưa ra những đánh giá về hiệu qua chi thường xuyên NSNN và gợi ý một số phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả chi NSNN ở Việt Nam.
Vũ Văn Cương (2012) đã trình bày những bất cập trong việc thực thi quy trình lập, chấp hành và quyết toán NSNN theo các điều khoản quy định trong Luật NSNN năm 2002. Bài báo đi sâu phân tích những bắt cập và đưa ra kết luận: hạn chế lớn nhất của quy trình NSNN là tính lồng ghép trong hệ thống các cấp NSNN. Tại tỉnh Kon Tum, Hoàng Anh Sơn (2017) đã thực nghiên cứu trên địa bàn tỉnh, nghiên cứu đã chỉ ra: “Thực trạng trong quá trình lập dự toán chỉ ngân sách của huyện còn nhiều hạn chế, bởi vì công tác lập dự toán chưa đánh giá được hết các yếu tô tác động dẫn tới chỉ thực tẾ vượt dự toán được giao, gây khó khăn trong việc quản lý và điều hành ngân sách hang năm”. Nghiên cứu cũng nêu rõ khía cạnh: “Công tác thanh tra kiểm tra tại huyện chưa được thường xuyên và việc kết luận, xử ly các sai phạm còn chưa nghiêm mình, còn nề nang hoặc ngại va chạm.
Đây là một nguyên nhân có ảnh hưởng rất lon tới hiệu quả quản lý chỉ thường xuyên NSNN". Ngoài ra, Tô Thiện Hiền (2015) đã chứng minh rằng quản lý NSNN luôn liên kết với việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội của nhà nước theo từng giai đoạn. Việc khai thác, huy động nguồn thu NSNN và sử dụng vốn NSNN, cùng việc chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm và hiệu quả, là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Luận án cũng lý giải cơ sở khoa học của hiệu quả quản lý NSNN và các hình thức quan lý ngân sách được áp dung tại tỉnh An Giang.
Bùi Thị Quỳnh Thơ (2013) đã đề xuất 6 nhóm giải pháp để đổi mới quản lý chỉ NSNN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Một số giải pháp trong đó cũng có ý nghĩa tham khảo cho các địa phương khác, bao gồm việc lựa chọn và ưu tiên các sản phẩm đầu ra, nâng cao hiệu qua chi tiêu không cần thiết, chi đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống các tiêu chuẩn chi NSNN.