Chương 1 đã trình bày khái quát về nội dung nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của đề tài. Với cấu trúc luận văn gồm năm chương, những nội dung chi tiết sẽ được trình bày cụ thể ở các chương sau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Giới thiệu Chương này nhằm tổng quan một số lý thuyết liên quan đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Đồng thời, chương này cũng sẽ trình bày tóm tắt các nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện trước đây có liên quan đến đề tài.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Hiệu quả là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất khi đề cập đến vấn đề hiệu quả; bởi vì ở mỗi lĩnh vực khác nhau, khi xem xét trên các góc độ khác nhau thì người ta sẽ có cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề hiệu quả. Chẳng hạn như trong lĩnh vực kinh tế hiệu quả thường gắn liền với giá trị tiền tệ mang lại, nhưng trong xã hội hiệu quả còn thể hiện qua việc tạo ra công ăn việc làm cho người dân, công bằng xã hội,… Trong lĩnh vực kinh tế cũng có khá nhiều định nghĩa về vấn đề hiệu quả. Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa (Đặng Đình Đào (1997)). Theo Đỗ Hoàng Toàn (1994) thì hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp thể hiện kết quả hoạt động thực tiễn của con người thông qua các phương án quyết định tốt nhất trong một điều kiện cụ thể nào đó.
Theo định nghĩa của European Central Bank (2010) thì hiệu quả là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững, lợi nhuận đầu tiên được dùng dự phòng cho các khoản lỗ nếu có xảy ra và tăng cường vị thế về vốn, cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. Như vậy trước tiên thì hiệu quả phải gắn liền với kết quả hoạt động kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 doanh, một trong những biểu hiện của hiệu quả là đạt kết quả tốt như tạo ra doanh thu bán hàng cao, mang lại lợi nhuận cao, bền vững. Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển kinh tế học của Nguyễn Văn Ngọc (2012) thì hiệu quả trong kinh tế là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra là hàng hóa và dịch vụ hình thành, đồng thời khái niệm hiệu quả được dùng để đánh giá xem xét tài nguyên được các thị trường phân phối như thế nào. Theo Farrell (1957) thì hiệu quả thể hiện qua mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được (gọi là outputs) so với các biến số đầu vào (gọi là inputs) đã sử dụng để tạo ra nó.
Theo Draft (2008) thì hiệu quả hoạt động kinh doanh được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp đạt được trong việc sử dụng, phân bổ các yếu tố đầu vào để sản xuất các sản phẩm đầu ra nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Các quan điểm trên đều có điểm chung rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực của quá trình sản xuất kinh doanh (các yếu tố sản xuất như vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,…) nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Nó phản ánh những lợi ích đạt được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được (doanh thu, lợi nhuận,…) so với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Banker, Charnes và Cooper (1984) phân chia hiệu quả kỹ thuật thành hai thành phần: + Hiệu quả kỹ thuật thuần túy (Pure technical efficiency - PE): phản ánh hiệu quả kỹ thuật thuần của doanh nghiệp xuất phát từ yếu tố kỹ thuật như trình độ năng lực quản lý, điều hành của nhà quản trị, chất lượng kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chiến lược kinh doanh,… Vì vậy chỉ tiêu này có thể được sử dụng như là chỉ số để đo lường năng lực quản lý. + Hiệu quả quy mô (Scale efficiency – SE): phản ánh khả năng doanh nghiệp đang hoạt động ở quy mô có tối ưu hay không, phản ánh tính hiệu quả của quy mô hoạt động (trình độ công nghệ, vốn,…). Không phải doanh nghiệp nào cũng hoạt hoạt động với quy mô tối ưu do nhiều lý do như hạn chế về vốn, chính sách,… Tính kinh tế theo quy mô thể hiện một sự tăng lên trong sản lượng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm sản xuất ra, trong khi tính phi kinh tế theo quy mô thì ngược lại. Do đó, quy mô tối ưu tồn tại ở điểm sản lượng mà tại đó chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm là thấp nhất.
Như vậy, hiệu quả quy mô cho biết khả năng của ban quản trị chọn lựa quy mô tối ưu của các nguồn lực để xác định quy mô của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, hiệu quả quy mô cho biết sự chọn lựa quy mô sản xuất để đạt được mức sản xuất mong đợi. Một quy mô không phù hợp (quá lớn hay quá nhỏ) có thể là nguyên nhân gây ra tính phi hiệu quả kỹ thuật. + Việc phân tách hiệu quả kỹ thuật thành hai thành phần như trên giúp chúng ta tìm ra được nguyên nhân gây ra tình trạng phi hiệu quả.
Phi hiệu quả có thể từ phi hiệu quả kỹ thuật thuần hoặc phi hiệu quả quy mô để từ đó có những giải pháp phù hợp. Khi hiệu quả kỹ thuật thuần nhỏ hơn 100% chứng tỏ có tồn tại phi hiệu quả kỹ thuật thuần, để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao năng lực quản trị, điều hành, nâng cao năng lực quản trị rủi ro,…. Nếu hiệu quả quy mô đạt 100% (doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện CRS) có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động với quy mô tối ưu và do đó tăng hay giảm quy mô sản xuất không làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nếu hiệu quả theo quy mô nhỏ hơn 100% chứng tỏ doanh nghiệp đang hoạt động với quy mô không tối ưu và tồn tại phi hiệu quả quy mô.
Phi hiệu quả quy mô có thể tồn tại trong điều kiện sản lượng tăng theo quy mô (IRS) hoặc sản lượng giảm theo quy mô (DRS). Điều kiện DRS ngụ ý rằng quy mô của ngân hàng quá lớn và ngân hàng có thể cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm chi phí đơn vị bằng cách giảm quy mô. Còn điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 kiện IRS cho biết ngân hàng có thể cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm chi phí đơn vị bằng cách tăng quy mô. - Hiệu quả phân bổ (Allocative efficiency - AE): phản ánh khả năng đơn vị sản xuất sử dụng đầu vào theo tỷ lệ tối ưu với mức giá tương ứng của chúng đã biết.
- Công thức liên hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả trên như sau: + CE = TE x AE; + TE = PE x SE; + CE = PE x SE x AE Một trong những mục tiêu hướng đến của nhà sản xuất là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách tối đa hóa đầu ra từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc tối thiểu hoá sử dụng đầu vào trong quá trình sản xuất. Trong trường hợp này khái niệm hiệu quả tương ứng với cái mà ta gọi là hiệu quả kỹ thuật (khả năng tối thiểu hoá sử dụng đầu vào để sản xuất đầu ra cho trước, hoặc khả năng tối đa hóa đầu ra từ đầu vào cho trước), và việc tránh lãng phí của nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao. Ở mức cao hơn, mục tiêu của nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí thấp nhất, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho tối đa hoá doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào và đầu ra sao cho tối đa hoá lợi nhuận. Trong các trường hợp này hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào các yếu tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định), và mục tiêu của nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận).
Tóm lại, quan điểm về hiệu quả rất đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu mà có thể tiếp cận khái niệm hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ vấn đề nghiên cứu cũng như từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, do vậy quan điểm về hiệu quả mà luận văn sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần là dựa trên hiệu quả kinh tế, trong đó tập trung nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật của các NHTMCP Việt Nam, nó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 phản ánh khả năng của một ngân hàng biến các nguồn lực đầu vào (lao động, tài sản cố định, vốn, kỹ thuật,…) thành các đầu ra (cho vay, đầu tư, dịch vụ, thu nhập,…).2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề quyết định sự sống còn của ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt. NHTM là một tổ chức quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động của tổ chức này luôn chịu sự ảnh hưởng và chi phối của các nhân tố môi trường bên ngoài và nội tại bên trong của tổ chức.