CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN THEO CHỈ SỐ HIỆU SUẤT CỐT YẾU (KPIs) 1.1 Khái niệm về đánh giá thực hiện công việc theo chỉ số hiệu suất cốt yếu KPIs 1.1 Đánh giá thực hiện công việc của nhân viên 1.1 Khái niệm Hiện nay, khái niệm đánh giá thực hiện công việc có nhiều cách hiểu và được trình bày trong nhiều tài liệu khác nhau, sau đây là một số cách hiểu phổ biến. Đánh giá thực hiện công việc là sự đánh giá có hệ thống và chính thức về tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với người lao động, theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2009). Hay đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên còn được hiểu là một hệ thống chính thức duyệt xét sự hoàn thành công tác của một cá nhân theo định kỳ (Genitty Carolyn, 2014) Theo Allenby và Jenkins (2007) Đánh giá thực hiện công việc của nhân viên là bất kỳ hoạt động nào nhằm đánh giá một cách có hệ thống hiệu quả công việc và năng lưc nhân viên bao gồm kết quả công việc, phương pháp làm việc, những phẩm chất và kỹ năng liên quan đến công việc. Đánh giá thực hiện công việc được đo lường một cách hệ thống vì nó được xây dựng theo trình tự, nó bao gồm các yếu tố cơ bản, có mối liên hệ mật thiết với nhau, đó là: Các tiêu chuẩn thực hiện công việc, đo lường sự thực hiện công việc theo các tiêu thức trong tiêu chuẩn và thông tin phản hồi giữa người lao động với bộ phận quản lý.
Thông qua đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên, nhà quản trị có thể điều chỉnh bố trí sử dụng nhân viên cho phù hợp với công việc, phát hiện những tiềm năng trong nhân viên, giúp họ thể hiện được hết khả năng của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tầm quan trọng của đánh giá thực hiện công việc Xét tổng thể, theo Merrill Anderson trong Bottom-Line Organization Development ,Improving Human Performance (2006), đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên là một hoạt động quan trọng của quản trị nhân sự, giúp doanh nghiệp có cơ sở để hoạch định, tuyển chọn, đào tạo và phát triển nhân sự. Còn theo MCGregor (2010), đánh giá thực hiện công việc có ảnh hưởng nhiều đến sự nghiệp của cá nhân và cuộc sống công việc hơn những tiến trình xử lý khác, đánh giá thực hiện công việc có thể làm cho một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn và giúp cho việc duy trì động cơ thúc đẩy nhân viên. Ngoài ra, theo Trần Kim Dung (2011) đánh giá thực hiện công việc sẽ kích thích, động viên nhân viên có những ý tưởng sáng tạo, phát triển nhận thức về trách nhiệm, thúc đẩy nỗ lực thực hiện công việc tốt hơn thông qua những điều khoản về đánh giá, ghi nhận, hỗ trợ.
Cũng theo Trần Kim Dung (2011), đánh giá thực hiện công việc mang lại nhiều ý nghĩa đối với doanh nghiệp, với các nhà quản lý cũng như bản thân nhân viên, được thể hiện cụ thể như sau: - Với tổ chức: Đánh giá thực hiện công việc giúp tổ chức đánh giá được chất lượng kết quả làm việc của nhân viên. Tổ chức sẽ có những định hướng và kế hoạch để nâng cao chất lượng làm việc của nhân viên theo kịp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và mục tiêu của tổ chức trong từng giai đoạn. Hệ thống đánh giá thực hiện công việc là chìa khóa giúp cho tổ chức hoạch định được kế hoạch tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới (Xem hình 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Hệ thống đánh giá thực hiện công việc của nhân viên (Nguồn: Trần Kim Dung (2011), Quản trị nguồn nhân lực) Đánh giá thực hiện công việc còn giúp tổ chức đánh giá việc thực hiện các hoạt động chức năng về nguồn nhân lực.
Mọi hoạt động hay quyết định về nhân sự của tổ chức đều được khẳng định sự đúng đắn theo thời gian. Kết quả đánh giá thực hiện công việc đo lường sự đúng đắn đó để tổ chức có những điều chỉnh phù hợp. - Với nhà quản lý: Đánh giá thực hiện công việc cho người quản lý những cơ sở để đưa ra các quyết định nhân sự trong tương lai. Các vấn đề về lương, thưởng là những hoạt động thường xuyên của tổ chức, ngoài ra các vấn đề về đề bạt thăng chức, xuống cấp hay thuyên chuyển, thôi việc cũng được các nhà quản lý đưa ra dựa trên sự thực hiện công việc của nhân viên.
Thông tin phản hồi trong đánh giá giúp nhà quản lý có cái nhìn toàn diện hơn về những suy nghĩ và mong đợi của nhân viên. Qua việc trao đổi trực tiếp với nhân viên, cán bộ quản lý sẽ có sự thấu hiểu, đồng cảm với nhân viên để có thể đưa ra những quyết định nhân sự phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân viên. Sự phù hợp trong các quyết định về nhân sự của người quản lý sẽ đánh giá lại hiệu quả công việc của nhà quản lý mà từ đó họ có những điều chỉnh phù hợp hơn và nâng cao năng lực của chính bản than mình trong công tác quản trị nhân sự. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Với nhân viên: đánh giá thực hiện công việc cung cấp các thông tin về sự phát triển trong công việc của nhân viên, giúp cho nhân viên biết họ đã thực hiện công việc đó như thế nào và họ có cần giúp đỡ gì thêm trong công việc khác không.
Hoạt động này còn giúp nhân viên hiểu và tự cải tiến khả năng làm việc của mình cũng như thay đổi để phù hợp với mong muốn của tổ chức. Nhân viên sẽ nhận được sự giúp đỡ từ tổ chức và người quản lý để có những điều chỉnh, thay đổi phù hợp với vị trí công việc của họ. Sự thấu hiểu qua lại giữa người quản lý và nhân viên sẽ giúp tạo điều kiện tốt cho công việc của cả hai bên. Các nhà quản lý sẽ có những quyết định kịp thời và chính xác hơn, nhân viên do vậy cũng có những điều chỉnh thay đổi kịp thời về cách thức làm việc cũng như hành vi thái độ mà từ đó nâng cao năng suất lao động, hoàn thành mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên có vai trò rất quan trọng, các tổ chức, cấp quản lý và nhân viên cần thực hiện tốt công tác này.2 Chỉ số hiệu suất cốt yếu (KPIs) 1.1 Khái niệm KPIs – Key Performance Indicators trong tiếng Anh được hiểu là các chỉ số đo lường hiệu suất cốt yếu, là công cụ đo lường, đánh giá hiệu quả công việc được thể hiện qua số liệu, tỉ lệ, chỉ tiêu định lượng, nhằm phản ánh hiệu quả hoạt động của các tổ chức hoặc bộ phận chức năng hay cá nhân. Theo David Parmenter (2009) có ba loại chỉ số đo lường hiệu suất là: chỉ số kết quả cốt yếu (KRI) cho biết bạn đã làm được gì với một viễn cảnh, chỉ số hiệu suất (PI) cho biết bạn cần làm gì, chỉ số hiệu suất cốt yếu (KPI) cho biết bạn cần phải làm gì để làm tăng hiệu suất lên một cách đáng kể.2: Các chỉ số đo lường hiệu suất (Nguồn: David Parmenter (2009), “Các chỉ số đo lường hiệu suất”) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Xuất phát từ yêu cầu của việc đo lường các kết quả thực hiện công việc trong doanh nghiệp, phương pháp KPIs cùng với sự ra đời của Thẻ điểm cân bằng của hai tác giả Robert S.Kaplan và David Norton thì KPI được sử dụng rộng rãi như là một phương thức hữu hiệu để đo lường hiệu suất công tác thông qua việc thiết lập được một hệ thống các thước đo hiệu suất. Cũng theo Parmenter (2009), chỉ số hiệu suất cốt yếu KPIs có 7 đặc điểm như sau: - Đây là các chỉ số phi tài chính: KPIs không được biểu thị bằng đơn vị tiền tệ như đồng, đô la,. KPIs là chỉ số đo lường những vấn đề rộng hơn, như số cuộc gặp gỡ của nhân viên bán hàng với khách hàng trong một ngày, số lượng khách hàng mở tài khoản mới,… - Các chỉ số phải được theo dõi thường xuyên: không giống như các chỉ số đo lường khác, KPIs là chỉ số thường xuyên được theo dõi và đánh giá, tùy theo thực trạng doanh nghiệp mà việc đánh giá có thể được tiến hành theo tháng, quý hay năm.
- Chịu tác động bởi đội ngũ quản trị cấp cao: việc theo dõi thường xuyên sự biến động, thay đổi của các KPIs làm căn cứ để cấp quản trị đưa ra những quyết định của mình. - Đáp ứng được năm tiêu chuẩn của một mục tiêu: đó là tiêu chuẩn SMART: cụ thể rõ ràng (Specific), có thể đo đếm được (Measureeable), có thể đạt được (Achievable), thực tế (Realistic), có thời hạn (Timed). - Đòi hỏi nhân viên các cấp phải hiểu các chỉ số KPIs và có hành động điều chỉnh phù hợp: KPIs có thể được gắn với từng nhân viên để từ đó đo lường và đánh giá được nhân viên, vì vậy hiểu rõ KPIs và có sự điều chỉnh hoạt động làm việc của bản thân nhằm hoàn thành tốt mục đích từ phía cá nhân từng nhân viên. - Một chỉ số KPIs sẽ ảnh hưởng tới hầu hết các yếu tố cơ bản quyết định thành công và không chỉ ảnh hưởng đến một chỉ tiêu của thẻ cân bằng điểm: có nghĩa là khi ban quản trị và nhân viên tập trung vào KPIs thì doanh nghiệp sẽ đạt được mục tiêu đề ra trên mọi phương diện.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - KPIs có tác động đáng kể và tích cực tới các chỉ tiêu được đặt ra trong doanh nghiệp.2 Ý nghĩa KPIs là một công cụ hiện đại giúp cho các nhà quản lý triển khai chiến lược lãnh đạo thành các mục tiêu quản lý và chương trình hành động cụ thể cho từng bộ phận, từng lĩnh vực và từng cá nhân, từ đó đo lường, đánh giá và cải thiện hiệu suất làm việc để đạt được mục tiêu chung.3 Đánh giá thực hiện công việc theo KPIs 1.1 Định nghĩa Đánh giá thực hiện công việc theo KPIs là việc áp dụng các chỉ số KPIs cụ thể cho từng chức danh, từng phòng ban vào hoạt động đánh giá thực hiện công việc.