Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp và phát ...

Luận văn phân tích giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Tây Hà Nội.

Trường đại học

Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.3. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

1.4. Xu hướng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.5. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.5.1. Khái niệm hoạt động cho vay

1.5.2. Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NHNo&PTNT TÂY HÀ NỘI

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NHNo&PTNT TÂY HÀ NỘI

Trích đoạn nội dung tài liệu

Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm Luận văn Tốt nghiệp DANH MỤC VIẾT TẮT NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn NHTM Ngân hàng thương mại DN Doanh nghiệp DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh SXKD Sản xuất kinh doanh TCTD Tổ chức tín dụng NH Ngân hàng NHNN Ngân hàng Nhà nước DNNN Doanh nghiệp Nhà nước DNTN Doanh nghiệp tư nhân Quỹ BLTD Quỹ bảo lãnh tín dụng CBTD Cán bộ tín dụng TCKT Tổ chức kinh tế SV: Nguyễn Thị Minh Huệ Lớp: CQ45/15.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm Luận văn Tốt nghiệp LỜI NÓI ĐẦU Kể từ khi xóa bỏ chế độ bao cấp bước sang nền kinh tế thị trường năm 1986, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã bắt đầu xuất hiện và hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Việc ban hành Luật doanh nghiệp vào năm 2000 đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều nhà doanh nghiệp lập các công ty mới về cả số lượng và chất lượng. Số lượng doanh nghiệp tư nhân, và đặc biệt là các DNVVN đã tăng mạnh. Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam thì sự tồn tại của loại hình DNVVN đóng một vai trò to lớn và có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty, các doanh nghiệp lớn thì các DNVVN là sự bổ sung cần thiết cho nền kinh tế. Nó tạo động lực phát triển toàn diện và sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế, góp phần tận dụng tối đa mọi nguồn lực vào việc tạo ra của cải cho toàn xã hội. Nhưng để thúc đẩy phát triển DNVVN ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt khó khăn mà các doanh nghiệp hiện nay đang gặp phải, đặc biệt đó là việc huy động vốn dùng cho SXKD và đổi mới công nghệ. Xuất phát từ thực trạng trên, sau một thời gian thực tập tại NHNo&PTNT Chi nhánh Tây Hà Nội được sự giúp đỡ của ban lãnh đạo, của cán bộ nhân viên phòng tín dụng, đồng thời có sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS-TS. ĐINH XUÂN HẠNG em đã chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Hà Nội ”. Luận văn được chia làm 3 phần: Chương 1 : Lý luận chung về hiệu quả cho vay đối với DNVVN. Chương 2 : Thực trạng hiệu quả cho vay đối với DNVVN tại NHNo&PTNT Tây Hà Nội. Chương 3 : Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối với DNVVN tại NHNo&PTNT Tây Hà Nội. SV: Nguyễn Thị Minh Huệ Lớp: CQ45/15.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm Luận văn Tốt nghiệp Do trình độ lí luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên luận văn thầy cô giáo và các anh chị trong ngân hàng để luận văn được hoàn thiện và đầy đủ hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Nguyễn Thị Minh Huệ SV: Nguyễn Thị Minh Huệ Lớp: CQ45/15.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm Luận văn Tốt nghiệp CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất phong phú và đa dạng, song chúng ta chỉ đi sâu vào nghiên cứu DNVVN. Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật của Việt Nam cho rằng khái niệm DNVVN và sau đó khái niệm doanh nghiệp nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Vấn đề tiêu chí để phân loại doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều năm qua. Định nghĩa về DNVVN, doanh nghiệp nhỏ rõ ràng phải dựa trước tiên vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu.Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của một nước ( trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên), tính chất ngành nghề, vùng lãnh thổ. Các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau. Ở Việt Nam để giải quyết vấn đề định nghĩa này một phần nào. Công văn số 681 /CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo đó DNVVN là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn). Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các DNVVN ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ. Vì vậy, tiếp theo đó Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra chính thức định nghĩa DNVVN như sau: “ DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc SV: Nguyễn Thị Minh Huệ Lớp: CQ45/15.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm Luận văn Tốt nghiệp lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người ”. Cùng với sự phát triển của đất nước, các DNVVN nước ta không ngừng lớn mạnh. Theo đó, ngày 30 tháng 06 năm 2009 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, quy định: “ DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm ( tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Cụ thể như sau: Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao Khu vực động nguồn vốn động vốn động I- Nông, lâm nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên thủy sản trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến 200 người 200 người 100 tỷ đồng đến 300 người II- Công nghiệp và xây 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên dựng trở xuồng trở xuống người đến tỷ đồng đến 200 người 200 người 100 tỷ đồng đến 300 người III- Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 dịch vụ trở xuồng trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến 50 người 50 tỷ đồng 100 người Tính đến nay, DNVVN chiếm 95% trong tổng số doanh nghiệp có đăng kí. Riêng trong năm 2009 đã có trên 76.5 nghìn doanh nghiệp mới thành lập, trong đó đại bộ phận là DNVVN. Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa , chiếm tới 98% số lượng doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên gần 2,313,857 tỷ đồng tương đương 121 tỉ USD) đóng góp trên 40% tổng GDP của cả nước. SV: Nguyễn Thị Minh Huệ Lớp: CQ45/15.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm Luận văn Tốt nghiệp 1.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ  DNVVN có vốn đầu tư ban đầu tư ban đầu không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp Vốn đầu tư ban đầu của một DNVVN là rất thấp. Theo NĐ 90/CP, vốn đăng kí DNVVN là dưới 10 tỷ đồng. Với quy mô vừa và nhỏ thì nhu cầu nhà xưởng không phải lớn, do đó chi phí ban đầu cũng không cao. Khả năng thu hồi vốn nhanh do chu kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và và nhỏ ngắn. Một số DNVVN thành lập mang tính gia đình, bạn bè nên khi khó khăn công nhân và chủ lao động đều có tinh thần nỗ lực; lao động được tận dụng để thay thế vốn bằng tiền vào việc mua sắm máy móc thiết bị, DNVVN giảm được chi phí có định nhưng vẫn có thể đạt hiệu quả kinh tế cao.  DNVVN năng động, nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường DNVVN thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng khá nhanh nhạy với sự biến đổi của thị trường. Do quy mô vừa và nhỏ, mô hình tổ chức quản lý sản xuất giản đơn nên DNVVN dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa. Với cơ sở vật chất kĩ thuật không lớn, DNVVN đổi mới linh hoạt hơn, dễ dàng chuyển đổi sản xuất hay thu hẹp quy mô để thích nghi với sự thay đổi của nền kinh tế. Vì vây mà ít bị ảnh hưởng trước những biến động lớn trên thị trường, phục hồi dễ dàng hơn so với doanh nghiệp lớn.  DNVVN có phạm vi hoạt động rộng khắp, lĩnh vưc hoạt động rất phong phú và đa dạng, tạo điều kiện khai thác tối ưu tiềm lực trong nước DNVVN hoạt động kinh doanh ở mọi ngành nghề, phát triển rộng rãi ở mọi vùng lãnh thổ, kể cả nông thôn và miền núi, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho dân cư địa phương và các vùng phụ cận, góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong cả nước. Các DNVVN rất có lợi thế trong việc tuyển dụng lao động địa phương và tận dụng các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có, phát huy hết lợi thế vùng kinh tế cho sản xuất kinh doanh. SV: Nguyễn Thị Minh Huệ Lớp: CQ45/15.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm Luận văn Tốt nghiệp  Khả năng tài chính của DNVVN hạn chế Với ưu thế được tạo lập dễ dàng với một lượng vốn ít, DNVVN gặp phải một hạn chế là năng lực tài chính thấp. Từ đó dẫn đến một loạt khó khăn cho DNVVN trong SXKD. Vốn chủ sở hữu ít nên khả năng vay vốn của DNVVN cũng bị hạn chế. Các DNVVN thường thiếu tài sản đảm bảo các khoản vay. Các ngân hàng e ngại khi cho các doanh nghiệp này vay vốn vì khả năng gặp rủi ro cao. Khả năng tài chính hạn chế, quy mô kinh doanh không lớn, các DNVVN cũng rất khó khăn để huy động vốn trên thị trường. Chính vì vây, phần lớn các DNVVN luôn trong tình trạng thiếu vốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ