CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1. Khái niệm về động lực làm việc: Động lực đại diện cho "Những quá trình tâm lý gây ra sự kích động, hướng và duy trì các hành động tự nguyện theo định hướng mục tiêu (Mitchell, 1982). Động lực được xác định bởi Robbins (1993) là "sẵn sàng nỗ lực cao vào các mục đích của tổ chức, do điều kiện của nỗ lực để đáp ứng một số nhu cầu cá nhân." Theo Pinder (2008) Động lực làm việc là một tập hợp các lực lượng mạnh mẽ bắt nguồn từ bên trong lẫn bên ngoài cá thể của một cá nhân, bắt đầu hành viec liên quan đến công việc, và để xác định hình dạng, hướng, cường độ và thời gian của nó. Theo Herzberg ( 1959) trong tác phẩm “ The motivation to work” đã cho rằng: “ Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của nhân viên để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức” Theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của Nguyễn Vân Điềm – Nguyễn Ngọc Quân (2012) “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nao đó”.
Theo giáo trình “ Hành vi tổ chức” của Bùi Anh Tuấn (2013) “động lực lao động là những yếu tố bên trong con người nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. Theo Trần Kim Dung & Nguyễn Ngọc Lan Vy ( 2011) “Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mục tiêu nhất định, còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng”. Từ những khái niệm của những nghiên cứu trong và ngoài nước trên có thể tóm lại Động lực là: mô tả các áp lực bên trong cá nhân hình thành các mức độ, phương hướng, và sự kiên trì của các nỗ lực khi con người làm việc.
Một người được động lực làm việc cao sẽ nỗ lực làm việc hơn so với những người có mức độ động viên thấp hơn. Quá trình hình thành của động lực làm việc: Động lực bao gồm 3 quá trình tâm lý: thúc đẩy (Arousal), phương hướng hành vi (direction) và cường độ công việc (intensity). Thúc đẩy là hành động khởi đầu. Nó thường được kích thích bởi nhu cầu của một người hoặc mong muốn cái gì đó từ cuộc sống của mình, hoàn toàn hoặc một phần.
Hướng dẫn đề cập đến các nhân viên đường dẫn để thực hiện các mục tiêu họ đặt cho mình. Cường độ là số lượng nhân viên năng lượng đưa vào hoạt động mục tiêu hướng dẫn. Mức độ cường độ thường phản ánh tầm quan trọng và khó khăn của mục tiêu. Những quá trình tâm lý này liên quan đến bốn yếu tố: thứ nhất, động cơ phục vụ sự chú ý trực tiếp, tập trung vào các vấn đề cụ thể, con người, nhiệm vụ, …, thứ hai, nó phục vụ để kích thích nỗ lực, thứ ba, động lực ảnh hưởng đến sự kiên trì.
Cuối cùng, động lực ảnh hưởng đến việc lựa chọn và áp dụng các chiến lược liên quan đến nhiệm vụ. Vai trò của động lực làm việc: Để tạo được động lực làm việc cho nhân viên cần đề ra các chính sách phù hợp, các biện pháp tác động tới họ nhằm làm cho họ có động lực trong công việc, thúc đẩy nâng cao mức độ thỏa mãn trong công việc và nỗ lực nhằm đóng góp cho sự thành công của tổ chức. Khi người lao động có động lực làm việc cao sẽ làm việc nhiệt tình hơn nỗ lực hơn trong công việc và tự định hướng vào các mục tiêu quan trọng và đem lại thành công cho doanh nghiệp Như vậy động lực làm việc có vai trò quan trọng không chỉ riêng đối với bản thân người lao động trong doanh nghiệp mà còn đối với cả tổ chức: Đối với cá nhân người lao động: Động lực làm việc là yếu tố quyết định tinh thần làm việc cũng như hiệu quả công việc của nhân viên, con người luôn có những nhu cầu và đây chính là động lực để thúc đẩy họ nỗ lực làm việc. Đối với tổ chức: Các tổ chức doanh nghiệp tạo động lực làm việc cho nhân viên sẽ làm cho nhân viên nỗ lực chăm chỉ làm việc, nhiệt tình cống hiến hết mình và gắn bó với doanh 8 nghiệp.
Mỗi một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần có sự nỗ lực của tất cả mọi thành viên trong công việc, cùng góp công góp sức, hướng về một mục tiêu chung của tổ chức. Vì vậy việc tạo động lực cho nhân viên là một điều cần thiết để tăng năng suất của người lao động từ đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh tạo ra lợi thế cạnh tranh riêng cho doanh nghiệp. Các lý thuyết về động lực làm việc: Thuật ngữ Động lực (motivation) có nguồn gốc từ tiếng Latin “movere”, có nghĩa là “làm cho chuyển động”. Động lực được phân thành các lực tác động bên trong và bên ngoài một người nhằm tạo ra sự kích thích, định hướng, củng cố việc duy trì mục tiêu và nỗ lực tự thân.
Các học thuyết động lực quan tâm đến việc giải thích lý do vì sao và làm thế nào mà hành vi con người được kích hoạt. Có khá nhiều lý thuyết đề cập đến động lực làm việc. Bartol và Martin (1998) coi động lực là một công cụ mạnh mẽ để củng cố hành vi và kích hoạt xu hướng tiếp tục. Để tạo ra được động lực làm việc cho nhân viên cần phải thỏa mãn những nhu cầu của họ.
Con người có nhiều nhu cầu khác nhau và những nhu cầu này luôn cạnh tranh nhau để tồn tại, như một số người được thúc đẩy bời thành tích trong công việc, một số khác do cách ứng xử của cấp trên. Theo Bartol và Martin (1998) đã chia thành 3 nhóm: Thuyết nhu cầu, thuyết nhận thức và thuyết củng cố 1. Các lý thuyết về nhu cầu: Các học thuyết thỏa mãn nhu cầu của động lực tập trung vào các yếu tố bên trong cá nhân nhằm tăng thêm sự kiên trì và định hướng hành vi vào một mục tiêu nhất định. Nói chung, các học thuyết động lực dạng này xem động lực là sản phẩm của các thúc đẩy bên trong hướng đến sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân.
Các học thuyết động lực nhằm thỏa mãn này dựa trên phẩn lớn các học thuyết ban đầu về động lực, qua đó tìm hiểu động cơ hành vi của một cá nhân thì ta cần phải tìm hiểu ngược lại nguồn gốc ban đầu của các thúc đẩy bên trong là gì. Các học thuyết động cơ nhằm thỏa mãn bao gồm: Thuyết thang bậc nhu cầu của 9 Abraham Maslow, Học thuyết ERG của Alderfer, Học thuyết hai nhân tố của Herzberg, và Học thuyết ba nhu cầu của McClelland. Học thuyết thang bậc nhu cầu_Abraham Maslow (1943): Tháp nhu cầu của Maslow (Maslow's hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation và là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh. Theo Abraham Maslow nhu cầu của mỗi cá nhân con người được phân chia thành 5 loại và được thể hiện ở 2 cấp bậc: Nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao Nhu cầu bậc thấp: là những nhu cầu ở mức cơ bản, một nhân viên có động lực làm việc để đáp ứng các nhu cầu sinh lý cơ bản: o Nhu cầu sinh học:là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì cuộc sống của con người, bao gồm các yếu tố như ăn uống, măc, giờ giấc làm viêc, nghỉ ngơi, … o Nhu cầu an toàn: An toàn trong môi trường làm việc, an toàn trong công việc và lương thưởng,… Nhu cầu bậc cao: Là 3 nhu cầu còn lại là các nhu cầu có liên quan đến trí tuệ và tinh thần, tình cảm.
o Nhu cầu về xã hội: Do con người là một thành phần của xã hội nên họ cần được người khác chấp nhận, họ luôn có những nhu cầu được yêu thương gắn bó, ở cấp độ này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển, như nhu cầu giao tiếp với đồng nghiệp hay sự thân thiện củacấp trên, tương tác với khách hàng và đối tác,…. o Nhu cầu về được tôn trọng: Theo Abraham Maslow khi đã thỏa mãn nhu cầu về xã hội thì con người có xu hướng tự trọng và mong muốn được những người xung quanh tôn trọng. Nhu cầu này dẫn tới sự thõa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. Là mong muốn của con người nhận được sự tôn trọng, chú ý và quan tâm từ nhũng người xung quanh, mong muốn bản thân là một thành viên quan trọng trong tổ chức, mong muốn được thừa nhận và tưởng thưởng từ phía người lãnh đạo.
10 o Nhu cầu tự thể hiện ( nhu cầu tự hoàn thiện): Abraham Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong tất cả các nhu cầu của con người. Theo Ông ở mức độ này con người sẽ mong muốn đòi hỏi nhiều hơn về việc được tham gia vào việc ra quết định trong công việc của họ, công viêc phải thay đổi và có tính thách thức nhiều hơn, cũng như công việc phải linh hoạt và độc lập. Trong khi các nhu cầu bậc thấp là những mong muốn thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của cuộc sống thì nhu cầu ở bậc cao sẽ thể hiện các mong muốn phát triển về mặt tâm lý của con người. Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow được xây dựng dựa trên 2 nguyên tắc để mô tả cách thức mà nhu cầu tác động đến hành vi của con người.
Nguyên tắc thứ 1: Nguyên tắc chưa thỏa mãn (Eficit Principle): Một nhu cầu đã được thỏa mãn sẽ không còn là tác nhân tác động vào hành vi. Theo Maslow con người sẽ hành động để thỏa mãn các nhu cầu chưa được đáp ứng hay còn đang ở trạng thái thiếu hụt. Nguyên tắc thứ 2: Nguyên tắc tịnh tiến (Progression priciple): Theo nguyên tắc này thì nhu cầu ở bậc cao hơn sẽ không được kích hoạt khi nhu cầu bậc ở bậc thấp ngay dưới nó được thỏa mãn, con người sẽ tiến từng bước trên thang bậc nhu cầu để thỏa mãn các nhu cầu của mình từ bậc thấp đến bậc cao.