mở đầu. Giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 1 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về động lực, động lực làm việc, CC, động lực làm việc của CC, các lý thuyết kinh tế học và những nghiên cứu liên quan.
Từ đó đề xuất lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp. Chƣơng 2 Thực trạng động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức tại TTHCC tỉnh Đồng ai. Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu. Dựa vào những kết quả khảo sát để đánh giá thực trạng động lực làm việc của cán bộ, CC, VC tại Trung tâm Hành chính công.
Chƣơng 3 Giải pháp nâng cao động lực làm việc cho cán bộ công chức, viên chức tại Trung tâm Hành chính công tỉnh Đồng ai Chương này trình bày các giải pháp đề nghị để giúp nâng cao động lực làm việc cho CC tại TTHCC. Các mục tiêu, nguồn lực, cách thực hiện và hiệu quả đem lại khi thực thi những giải pháp. Đưa ra kết luận, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. Tài liệu tham khảo.
Cung cấp danh mục tài liệu tham khảo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠ G 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm động lực và động lực làm việc của công chức 1.1 Khái niệm động lực Theo Kreitner (1995), động lực là quá trình tâm lý mang lại mục đích và định hướng hành vi. Buford, Bedeian, và Linder (1995), động lực là một khuynh hướng hành động một cách có mục đích để đạt được các nhu cầu cụ thể chưa được đáp ứng. Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn.
Mullins (1996) động lực là sự cố gắng đạt được mục tiêu để đáp ứng một số nhu cầu hoặc kỳ vọng. Theo Appleby (1994), động lực là những cách thúc đẩy nguyện vọng, nhu cầu của con người.2 Khái niệm động lực làm việc Theo Mitchell (1982) động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng, và kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện nhằm đạt mục tiêu. Cá nhân mình cần hiểu rõ mục tiêu đã đề ra và được khuyến khích để tự nguyện cam kết về sự chắc chắn đạt được mục tiêu. Mỗi con người đều có kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm riêng biệt cho nên động lực khiến họ làm việc tích cực đều khác nhau.
Vì vậy động lực lao động sẽ tăng lên khi mà họ được đáp ứng đầy đủ về môi trường, điều kiện làm việc. Động lực làm việc là một tác động bên trong có thể kích thích cá nhân nhằm mục tiêu thực hiện một số nhu cầu hoặc mong đợi theo Mullins (2005) định nghĩa. Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2014) thì động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó. Theo giáo trình hành vi tổ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 chức của TS Bùi Anh Tuấn (2015) thì động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Từ các định nghĩa trên cho chúng ta thấy tính cách của người lao động có ảnh hưởng đến động lực làm việc của họ. Quan điểm tích cực hay tiêu cực của một cá nhân đối với một sự việc nào đó có thể giúp chúng ta định hướng được phần nào động lực thúc đẩy động lực làm việc. Suy cho động lực làm việc là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động.
Như vậy yêu cầu đặt ra cho những nhà quản trị là phải tìm tòi, sáng tạo ra phương pháp ươm mầm động lực trong người lao động để họ làm việc, đạt được hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. “Tại sao người lao động lại làm việc?” Đây là câu hỏi mà các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời. Để có được câu trả lời, các nhà quản trị phải xác định rằng hoạt động của con người là những hoạt động có mục đích; dựa vào luận điểm trên để tìm hiểu về động lực của người lao động và sáng tạo ra cách tạo động lực cho người lao động trong quá trình làm việc. Có thể hiểu động lực là sự khao khát, là bàn đạp thúc đẩy con người cố gắng, vượt qua được những cản trở từ các phía để cuối cùng đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó.
Tuy nhiên, mỗi cách tiếp cận khác nhau cũng có những quan niệm khác nhau về động lực.3 Công chức Theo khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ Công chức 2008 thì “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.4 Động lực làm việc của công chức Động lực làm việc của CC nhà nước là những niềm tin mạnh mẽ để triển khai các công việc có nghĩa phục vụ cộng đồng và xã hội. Do đó, việc tạo động lực cho đội ngũ CC có tầm quan trọng đặc biệt, bởi họ là bộ phận lao động quan trọng mang đến hiệu lực, kết quả của bộ máy nhà nước phục vụ cộng đồng. Động lực có tác động đến hiệu quả làm việc của cá nhân và tổ chức bởi vì nếu CC không xác định được động lực trong công việc sẽ gây ra sự nhàm chán làm giảm hiệu suất công việc ảnh hưởng đến việc phục vụ người dân. Vai trò công chức nhà nước có khuynh hướng vì lợi ích cộng đồng, mong muốn làm việc để tạo ra các ảnh hưởng phục vụ xã hội gắn với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công, chủ yếu liên quan đến các quy trình hành chính, giấy tờ và môi trường làm việc mang tính ổn định, có sự gắn bó với đồng nghiệp.
Trong khi đó, người lao động ở ngoài khu vực nhà nước theo khuynh hướng thỏa mãn các mong muốn cá nhân, mong muốn phát triển thị trường hoặc trả lương công bằng cho kết quả làm việc thực tế, chủ yếu theo quy trình sản xuất, phát triển thị trường, kinh doanh, bán hàng và công việc thiếu tính ổn định và dễ thay đổi. Trên cơ sở khác biệt đặc điểm khác nhau giữa khu vực các cơ quan hành chính công và khu vực tư nhân, đồng thời các yếu tố như đặc điểm người lao động, đặc điểm công việc và điều kiện môi trường làm việc khác nhau nên động lực của công chức nhà nước so với động lực của người lao động ở khu vực tư nhân cũng có sự khác nhau. Do đó cấp quản lý nhân sự ở khu vực nhà nước cần phải phát huy các ưu điểm của khu vực nhà nước như công việc tạo sự ổn định, mang tính lý tưởng, vì những mục tiêu cao cả là phục vụ cộng đồng xã hội, môi trường công vụ là môi trường có sự gắn kết chặt chẽ giữa những công chức với nhau để khơi dậy cuốn hút người lao động vào làm việc tại khu vực hành chính nhà nước, làm cho công chức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 tăng thêm động lực làm việc, yên tâm, gắn bó tin tưởng với khu vực hành chính nhà nước, hoàn thành hiệu quả các nhiệm vụ chuyên môn được giao phó.2 Một số học thuyết về động lực làm việc 1.1 Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Thông thường hành vi của con người tại một thời điểm nào đó được quyết định bởi nhu cầu mạnh nhất của họ. Theo quan điểm của Abraham Maslow đã phân chia cấp bậc nhu cầu khác nhau của con người thành năm nhóm và sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao bao gồm: nhu cầu sinh lý; nhu cầu an toàn; nhu cầu xã hội; nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện, khẳng định mình.1 Cấp bậc nhu cầu của Maslow Nguồn: Abraham Maslow (1943) Nhu cầu sinh lý: đó là nhu cầu cơ bản của con người như là thức ăn, uống, ngủ, không khí, nhà ở, đồ đạc….
Do đó nhu cầu sinh lý trong cơ quan, tổ chức được thể hiện thông qua thu nhập và các khoản phúc lợi. Nhu cầu an toàn được thể hiện trong cả tinh thần lẫn thể chất bao gồm an toàn về bản thân như không bị tấn công, chiến tranh đe doạ, thiên tai; an toàn về tinh thần như cuộc sống ấm no đầy đủ. Trong tổ chức, nhu cầu này sẽ được biểu đạt bằng công việc an toàn, có bảo hộ lao động, công việc ổn định lâu dài…. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Nhu cầu xã hội: Khi nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn được thỏa mãn thì nhu cầu thứ ba cao hơn xuất hiện đó là nhu cầu tương tác xã hội, liên kết bạn bè, làm việc nhóm, tham gia hoạt động xã hội, được yêu thương,… Tương ứng trong tổ chức, việc đề xuất các buổi đi chơi dã ngoại, chơi chung các trò chơi tập thể, gắn kết nhân viên, đồng nghiệp giúp nhu cầu xã hội được nâng cao.
Nhu cầu được tôn trọng: Bao gồm được tôn trọng và tự trọng. Thông qua các thành quả cá nhân, sự tôn trọng thể hiện ở việc con người muốn được người khác chấp nhận và quý mến, nể phục. Sự tự trọng thể hiện qua việc quý trọng bản thân, tin tưởng vào sức mạnh của chính bản thân mình.