mở đầu cho hoạt động dịch vụ thẻ tại Việt Nam. Cho đến nay, các ngân hàng tham gia vào thị trường thẻ ngày một nhiều và hướng tới phục vụ thẻ cho đông đảo quần chúng với các sản phẩm đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thị trường thẻ đã góp phần quan trọng không thể thiếu trong xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam. Những tiện ích mà thẻ mang lại đã góp phần thay đổi thói quen dùng tiền mặt trong dân cư, nâng cao dân trí, góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa, kích thích kinh doanh dịch vụ phát triền.
Khái niệm dịch vụ thẻ ngân hàng 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng và dịch vụ thẻ Đến nay chưa có sự xác định rõ ràng về khái niệm dịch vụ ngân hàng. Có khái niệm cho rằng: Dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi.), chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới được gọi là dịch vụ ngân hàng. Một số khác cho rằng tất cả các hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng là dịch vụ ngân hàng.
Theo David Cox “hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng” Trong Luật các T: ổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2010 cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải thích từ ngữ đối với khái niệm dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” trong khoản 12, điều 4: “việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Tuy nhiên đâu là hoạt động kinh doanh tiền tệ và đâu là dịch vụ ngân hàng thì chưa có sự phân định rõ. Đây chính là một trong những điểm bất cập của Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam. Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của địch vụ tài chính thuộc lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ có liên quan trong quá trình lưu thông tiền té.
Bản chất hoạt động ngân hàng là một dang hoạt động kinh doanh tiền tệ, thu phí của khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thé, nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế. Từ những định nghĩa trên, tuy có những cách thể hiện khác nhau, có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ ngân hàng như sau: Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính. là các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng. Dịch vụ thẻ là một loại hình dịch vụ thuộc nhóm cá dịch vụ bán lẻ hay còn gọi là dịch vụ cá nhân của một ngân hàng hiện đại.
Đây là một dịch vụ mà trong đó ngân hàng sẽ cung cấp một công cụ là thẻ thanh toán cho các khách hàng để khách hàng sử dụng các tính năng tiện ích và các dịch vụ mà ngân hàng đó cung cấp thông qua công cụ thanh toán này. Đặc điểm cấu tạo thẻ thanh toán: Thẻ ngân hàng - tiền điện tử - là phương tiện thanh toán hiện đại nhất trên thế giới ngày nay, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn với sự ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng. Ở nước ta, khái niệm thẻ thanh toán được quy định tại điều 2 của “Quy chế phát hành, thanh toán, cung cấp và sử dụng dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ của ngân hàng”, kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của thống đốc NHNN Việt Nam : “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành, đẻ thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện, điều khoản do các bên thỏa thuận”, “Giao dịch thẻ là việc sử dụng thẻ để gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tố chức phát hành thẻ, tố chức thanh toán thẻ cung ứng”. Ngoài ra, còn có khái niệm khác về thẻ ngân hàng — theo Nguyễn Đăng Dờn và các thành viên (2009), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, NXB Đại học quốc gia TP.HCM : “Thẻ ngân hàng là một loại công cụ thanh toán hiện đại do ngân 10 hàng phát hành và bán cho các đơn vị và cá nhân, dé ho str dung trong thanh toan tién mua ban hàng hóa, dịch vụ.hoặc rút tiền tại các ngân hàng đại lý hay các quây trả tiền tự động (ATM)”.
Tóm lại : Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng đề thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc để rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dự tài của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đông ký kết giữa NHPHT và chủ thẻ. Khi mới xuất hiện, thẻ được làm bằng kim loại, nhưng qua nhiều giai đoạn phát triển, ngày nay thẻ thanh toán có cầu tạo như sau: > Thẻ ngân hàng có dạng hình chữ nhật với 4 góc tròn, được làm bằng nhựa cứng (plastic). > Kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế là 8,5cm x 5,5cm x 0,07cm. > Tuỳ theo phương pháp quản lý dữ liệu mà thẻ được chế tạo có lớp đải băng từ hoặc vi mạch điện tử (thẻ chip) hoặc có cả băng từ và chip (thẻ từ có chip).
Các yếu tổ trên thẻ : > Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành. > Số thẻ: số được dập nổi lên trên thẻ, được ¡n trên hoá đơn khi mua hàng > Ngày hiệu lực của thẻ: Đây là thời hạn mà thẻ được lưu hành. > Họ tên chủ thẻ: In chữ nồi, là tên cá nhân (thẻ cá nhân) hoặc tên công ty và người được ủy quyền sử dụng (thẻ công ty) > Yếu tố bảo mật, lưu trữ thông tin của thẻ: dải băng từ, chip điện tử. > Ô chữ ký: Chủ thẻ ký chữ ký mẫu dé đơn vị chấp nhận thẻ kiểm tra khi chủ thẻ thực hiện giao dịch thanh toán.
> Một số hướng dẫn đối với chủ thẻ. VD: đường dây nóng, địa chỉ liên lạc của đơn vị phát hành. Phân loại thẻ ngân hàng 1. Phân loại theo công nghệ sản xuất + Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card): là loại thẻ sơ khai ban đầu, được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi các thông tin cần thiết trên bề mặt thẻ.
Hiện nay loại thẻ này không được sử dụng nữa vì kỹ thuật sản xuất thô sơ, tính bảo mật kém va dé làm giả. + Thẻ từ (Magnetic Card): là loại thẻ có băng từ ở mặt sau thẻ, các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Nhược điểm của loại này là số lượng các thông tin được mã hoá không nhiều và mang tính cố định nên không thê áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn, kẻ gian có thể lợi dụng đọc được thông tin và làm thẻ giả. hoặc tạo các giao dich gia.
+ Thẻ thông minh (Smart Card): Là loại thẻ có đặt một chip điện tử tương tự như một máy tính cực nhỏ trên thẻ, trong đó lưu trữ tất cả các thông tin về thẻ, chủ thẻ với độ bảo mật cao. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán. Theo tính chất thanh toán + Thẻ tín dụng (credit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ được thực hiện giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền trong phạm vi hạn mức đã được cấp theo thỏa thuận với tô chức phát hành thẻ - Là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cung cấp cho nguời sử dụng khả năng chỉ tiêu trước trả tiền sau. Các ngân hàng thường phân thẻ tín dụng theo hạng nhằm quản lý đối tượng khách hàng như thẻ chuẩn, thẻ vàng, thẻ bạch kim.
Chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng có phân hạng càng cao thì được hưởng càng nhiều ưu đãi và dịch vụ chất lượng hơn. + Thẻ ghi nợ ( debit card ): là loại thẻ cho phép chủ thẻ được thực hiện giao dịch mua hàng hóa, địch vụ hoặc rút tiền trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán. Mức chỉ tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản. Ngân hàng giữ vai trò cung cấp địch vụ cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ.
Đối với thẻ ghi 12 nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình cho vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên mọi khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của ngân hàng. Chính vì vậy về mức độ có thể thay thể tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượt trội so với thẻ tín dụng. + Thẻ trả trước (Prepaid card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi giá trị tiền được náp vào thẻ, tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tô chức phát hành thẻ. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ + Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ, các NHPH và các đơn vị chấp nhận loại thẻ này cũng được đặt trong nước, loại thẻ này cũng chỉ được lưu hành tại nước đó.
+ Thẻ quốc tế: là loại thẻ được phát hành bởi các ngân hàng trong nước và ngân hàng quốc tế, các tổ chức tài chính là thành viên của hiệp hội thẻ quốc tế. Loại thẻ này không chỉ được sử dụng trong phạm vi quốc gia mà còn được dùng trên toàn thể giới. Thẻ quốc tế được chấp nhận thanh toán trên toàn cầu và sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán. Đề phát hành thẻ quốc tế, tô chức phát hành thẻ phải là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế.
Khách hàng khi sử dụng thẻ quốc tế phải chịu nhiều chỉ phí hơn so với thẻ nội địa, đặc biệt là chỉ phí liên quan đến việc chuyển đổi ngoại tệ.