CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Hiện nay, trên thế giới chưa có một khái niệm chung về loại hình DNNVV mà tuỳ thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế mà đưa ra những quy định về DNNVV. Khi định nghĩa về DNNVV, các nước thường căn cứ vào quy mô về vốn của doanh nghiệp, số lượng lao động thường xuyên tại doanh nghiệp, tổng doanh thu, tổng tài sản. của doanh nghiệp. Chung quy lại mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức hay có cách kết hợp các tiêu thức trên khác nhau mà đưa ra định nghĩa riêng về DNNVV.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một thuật ngữ dùng để phân biệt giữa các doanh nghiệp với nhau về quy mô hoạt động. Dựa trên các tiêu thức khác nhau người ta chia ra làm hai loại doanh nghiệp đó là: doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại Việt Nam, theo nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 của Chính phủ quy định về hướng dẫn luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thì DNNVV được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) 1.2 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên thế giới, không có chỉ tiêu chuẩn để phân loại các doanh nghiệp khác nhau mà ngay cả cách phân loại doanh nghiệp cũng khác nhau.
Có nước 6 phân ra bốn loại doanh nghiệp như: Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn. Có nước phân loại doanh nghiệp thành: Doanh nghiệp siêu nhỏ (thường là kinh tế hộ gia đình), doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn. Có nước (như Mỹ), chỉ những DNNVV độc lập thì mới là DNNVV, nhưng cũng có nước tính cả DNNVV là thành viên của các công ty lớn cũng là DNNVV. Nhìn chung trên thế giới, hai tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để phân loại doanh nghiệp là số lao động sử dụng và số vốn.
Trong hai tiêu chuẩn ấy, khá nhiều nước coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan trọng hơn. Theo Liên minh Châu Âu, DNNVV là doanh nghiệp có số lượng công nhân không vượt quá 250 người. Tại Úc, DNNVV là doanh nghiệp có số lượng công nhân tối đa không vượt quá 300 người, còn tại Mỹ là không quá 1000 người. Trong cùng một khu vực, khái niệm DNNVV cũng có sự khác nhau.
Tại Nam Phi, DNNVV là doanh nghiệp có từ 1 đến 500 công nhân. Tại Chilê và Colombia con số này là 11 đến 200. Trong khi đó tại Mexico thì một doanh nghiệp có 500 công nhân vẫn được coi là DNNVV. Tại Việt Nam, theo nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 của Chính phủ quy định về hướng dẫn luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thì DNNVV được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), chi tiết như sau: 7 Bảng 1.1: Bảng phân loại DNNVV Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Khu vực Số lao động Tổng nguồn Số lao Tổng nguồn Số lao vốn động vốn động Từ 10 lao động Doanh thu Doanh thu I.
Nông, lâm trở xuống và không quá 50 không quá 200 Từ trên Từ trên 10 nghiệp và thủy doanh thu từ 3 tỷ đồng hoặc tỷ đồng hoặc 100 đến đến 100 sản, công nghiệp, tỷ đồng trở tổng nguồn vốn tổng nguồn 200 lao lao động xây dựng xuống hoặc tổng không quá 20 vốn không quá động nguồn tỷ đồng 100 tỷ đồng Từ 10 lao đọng Doanh thu Doanh thu trở xuống và không quá 50 không quá 300 Từ trên Từ trên 10 II. Thương mại và doanh thu từ 10 tỷ đồng hoặc tỷ đồng hoặc 10 đến đến 100 dịch vụ tỷ đồng trở tổng nguồn vốn tổng nguồn 100 lao lao động xuống hoặc tổng không quá 20 vốn không quá động nguồn tỷ đồng 100 tỷ đồng 1.3 Những đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp vừa và nhỏ DNNVV là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của một doanh nghiệp. Ngoài ra DNNVV có những đặc điểm riêng biệt sau: * Doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt do vậy dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh: Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi để chủ doanh nghiệp quản lý và giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động nội bộ của doanh nghiệp. Điều này cho phép DNNVV giảm thiểu sai sự sai lệch thông tin, giảm bớt cấp trung gian hơn so với doanh nghiệp lớn.
Cũng do đặc trưng có quy mô nhỏ và vừa nên các DNNVV có tính linh hoạt cao hơn các doanh nghiệp 8 lớn. Điều này được thể hiện DNNVV có thể nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiến lược kinh doanh trong mỗi giai đoạn, thời điểm để thích ứng với tình hình thị trường. Do vậy DNNVV dễ thích nghi với điều kiện kinh doanh. * DNNVV cần vốn đầu tư ban đầu ít, tốc độ thu hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao.
Và loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vừa phải nên yêu cầu vốn đầu tư sản xuất không quá lớn, hơn nữa chu kỳ sản xuất thường ngắn nên vòng quay của mỗi đồng vốn nhanh, hiệu quả kinh tế đem lại cao. * DNNVV có lợi thế trong việc nắm bắt nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng để sản xuất ra các sản phẩm phù hợp. Cụ thể các DNNVV cung ứng ra thị trường khối lượng sản phẩm lớn, đa dạng và phong phú về chủng loại thoả mãn được nhu cầu khác nhau của khách hàng một số DNNVV có khả năng cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao thay thế được hàng nhập khẩu, từng bước chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế như hàng may mặc cao cấp, đồ gốm mỹ nghệ, đồ trạm khảm, mây tre đan. * DNNVV tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế.
Có đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước: Các DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và hoạt động dưới nhiều hình thức như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể khác. * DNNVV có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp lớn. Trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ ngày nay, các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về sản phẩm, về thị phần tiêu thụ mà còn cạnh tranh gay gắt về công nghệ và kỹ thuật. Đối với một DNNVV việc đầu tư đổi mới một dây truyền công nghệ đòi hỏi số vốn bổ sung không nhiều lại có thể thu hồi vốn nhanh hơn các doanh nghiệp lớn.
Lợi thế này giúp các DNNVV nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán, 9 nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời giảm được thiệt hại do sự lạc hậu lỗi thời của dây truyền công nghệ cũ. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DNVVN 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng, phân loại và đặc điểm tín dụng DNVVN tại ngân hàng thương mại.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng chính là quan hệ vay mượn, sử dụng vốn lẫn nhau giữa người có vốn và người cần vốn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Quan hệ giữa hai bên trong hoạt động tín dụng bị ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, đó là thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả, các cam kết có điều kiện khác.
Trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng biểu hiện các mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng ngân hàng là loại hình tín dụng chuyên nghiệp, phản ánh quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước.2 Nguyên tắc tín dụng ngân hàng - Tín dụng ngân hàng được thiết lập trên cơ sở lòng tin. Điều được này thể hiện khi ngân hàng cấp tiền và cho khách hàng, có nghĩa là ngân hàng đó có sự tin tưởng vào khả năng trả nợ và sự sẵn lòng trả nợ của khách hàng. Do vậy ngân hàng phải thẩm định kỹ lưỡng khách hàng trước khi ra quyết định tín dụng.
Điều này rất quan trọng và nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả. Đặc trưng mang tính hoàn trả của tín dụng ngân hàng có nghĩa là ngân hàng chỉ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị cho người sử dụng và sau một thời gian nhất định khách hàng phải hoàn trả cho ngân hàng lượng giá trị lớn hơn 10 lượng giá trị ban đầu, phần tăng thêm chính là giá của khoản vay. Nghĩa vụ hoàn trả của khách hàng cho ngân hàng phụ thuộc vào thoả thuận giữa hai bên.
Qua thoả thuận đó khách hàng có thể trả một hoặc nhiều lần gốc và lãi tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định cho đến khi hết nợ vay. - Tín dụng ngân hàng mang tính thời hạn. Đó là sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng về thời gian sử dụng tiền vay. Đây là căn cứ để ngân hàng điều hoà giữa thời gian huy động và thời gian cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro thanh khoản.
Đối với khách hàng vay vốn có thể xác đinh thời gian vay vốn căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, tốc độ tiêu thụ sản phẩm, thời điểm hình thành nguồn thu, tình hình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. - Tín dụng ngân hàng mang tính rủi ro.