phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về tín dụng và chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại các NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Tiên Phong. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Tiên Phong. 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng 1. Khái niệm về tín dụng “Tín dụng” xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tƣởng, tín nhiệm. Theo Mác, “Tín dụng” là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế, “Tín dụng” là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa những ngƣời đi vay và những ngƣời cho vay, dựa trên nguyên tắc hoàn trả nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống. Theo giáo trình Tín dụng ngân hàng của Học viện ngân hàng có định nghĩa “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán”. Theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 đƣợc ban hành ngày 16/06/2010, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, các nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, 6 chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nhƣ vậy, từ các khái niệm trên có thể rút ra đƣợc bản chất của tín dụng ngân hàng: - Tín dụng phải dựa trên cơ sở sự tin tƣởng giữa bên cho vay và bên đi vay.
Chỉ khi nào ngƣời cho vay thực sự tin tƣởng vào sự sẵn lòng và khả năng trả nợ của ngƣời đi vay, ngƣời đi vay tin vào hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đi vay, khi đó quan hệ tín dụng mới đƣợc thiết lập. Đây chính là điều kiện tiên quyết hình thành quan hệ tín dụng. - Tín dụng là sử chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng tài sản của ngân hàng cho ngƣời đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi. Sau một thời gain nhƣ đã thỏa thuận, ngƣời đi vay phải hoàn trả cho ngƣời cho ngân hàng một lƣợng giá trị gồm cả gốc và lãi.
Phần chênh lệch này là giá trị của việc sử dụng quyền sử dụng vốn của ngƣời khác. - Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng những rủi ro. Đó là sự mất cân xứng về thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Rủi ro đó ngoài những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía ngân hàng và khách hàng, còn có những nguyên nhân khách quan nhƣ: sự biến động của thị trƣờng, chu kì kinh tế, sự thay đổi của chính sách hay những nguyên nhân bất khả kháng nhƣ: thiên tai, dịch họa… 1.
Vai trò của tín dụng ngân hàng a. Đối với nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế thị trƣờng luôn tồn tại các yếu tố cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trƣờng, nâng cao vị thế cạnh tranh của mình thì không còn con đƣờng nào khác là phải không ngừng nâng cao quy mô và chất lƣợng hoạt động kinh doanh của mình. Để làm đƣợc điều đó và sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn thì tín dụng ngân hàng là sự lựa chọn tối ƣu của 7 doanh nghiệp. - Tín dụng ngân hàng đóng vai trò luân chuyển vốn từ những ngƣời (cá nhân, hộ gia đình công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dƣ (do chi tiêu ít hơn thu nhập đến những ngƣời tiêu thụ hụt (do nhu cầu chi tiêu vƣợt quá thu nhập).
Đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục. - Giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế thông qua tín dụng ngân hàng, tạo công ăn việc làm và nâng cao năng suất lao động. - Cơ cấu lại các ngành kinh tế một cách hiện đại và hợp lý hơn nhờ thúc đẩy đầu tƣ vốn tín dụng vào các ngành, khu vực kinh tế trọng điểm mà chính sách của Nhà nƣớc đang hƣớng tới. - Giúp điều tiết thị trƣờng, kiểm soát giá trị đồng tiền, và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lƣu kinh tế giữa các nƣớc.
- Thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tƣ vốn của Chính phủ, giúp tăng nguồn thu Ngân sách nhà nƣớc. - Là kênh chuyển dịch vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, tín dụng ngân hàng nâng cao quá trình cải tổ nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế chinh trị. Đối với khách hàng - Tín dụng ngân hàng giúp các nhà đầu tƣ nắm bắt kịp thời cơ hội đầu tƣ, cơ hội kinh doanh của mình.
Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để góp phần gia tăng lợi nhuận. - Giúp cho các cá nhân, hộ gia đình có đủ khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu nâng cao chất lƣợng cuộc sống. - Đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đem lại lợi nhuận cho khách hàng. Đối với ngân hàng - Là hoạt động truyền thống của ngân hàng thƣơng mại, chiếm tỷ trọng 8 lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
Đây là hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhất cho các NHTM. - Thúc đẩy các nghiệp vụ phát sinh đi kèm với tín dụng ngân hàng nhƣ thanh toán L/C, chiết khấu thanh toán, thanh toán lƣơng qua tài khoản… 1. Tổng quan về tín dụng khách hàng cá nhân 1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Trƣớc khi định nghĩa về tín dụng khách hàng cá nhân, luận văn sẽ đề cập tới các cách phân loại tín dụng thƣờng gặp.
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản tín dụng theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Để có thể đo lƣờng đƣợc rủi ro tín dụng cũng nhƣ kiểm soát đƣợc chất lƣợng rủi ro tín dụng thì bắt buộc ngân hàng phải phân loại tín dụng. Thông thƣờng, các ngân hàng phân loại tín dụng có thể căn cứ vào các tiêu thức sau: Phân loại dựa vào mục đích sử dụng vốn: cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay mua bán bất động sản, cho vay sản xuất nông nghiệp, cho thuê tài chính,… Phân loại dựa vào đối tượng khách hàng: cho vay cá nhân, cho vay hộ kinh doanh, hộ gia đình, cho vay doanh nghiệp. Trong cho vay doanh nghiệp, ngân hàng tiếp tục phân loại thành cho vay doanh nghiệp tƣ nhân, cho vay công ty TNHH, cho vay công ty cổ phần,.
Phân loại dựa vào thời hạn cho vay: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn. Phân loại dựa vào tài sản bảo đảm: cho vay không có bảo đảm, cho vay có bảo đảm. Trong trƣờng hợp cho vay có tài sản bảo đảm, ngân hàng phân loại cho vay có tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá, bất động sản, phƣơng tiện vận tải, máy móc thiết bị và tài sản khác. Phân loại dựa vào phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức tín 9 dụng, cho vay theo món.
Nhƣ vậy, tín dụng khách hàng cá nhân tức là tín dụng dành cho các đối tƣợng cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh. Ngân hàng tài trợ vốn cho các đối tƣợng này nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc có hoàn trả nợ gốc và lãi. Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân Thứ nhất, đối tƣợng là các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh có nhu cầu sử dụng vốn cho mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ sản xuất kinh doanh. Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN có số lƣợng lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhƣng nhu cầu này là không thƣờng xuyên và chịu ảnh hƣởng lớn bởi yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa.
Thứ hai, sản phẩm dịch vụ đa dạng, KHCN có nhu cầu đa dạng và phức tạp, các nhóm dân cƣ khác nhau về thu nhập, địa vị xã hội, độ tuổi, giới tính… sẽ có nhu cầu sản phẩm dịch vụ khác nhau. Thứ ba, mục đích vay, KHCN chủ yếu vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua nhà, mua xe,… Ngoài ra, KHCN còn vay để sản xuất kinh doanh. Thứ tƣ, nguồn trả nợ, nguồn trả nợ đối với KHCN chính là nguồn thu nhập của KHCN sau khi trừ đi chi phí sinh hoạt tối thiểu, nguồn thu nhập này bao gồm lƣơng, lợi nhuận từ SXKD, từ cho thuê nhà,… Do đó, nghề nghiệp, công việc của KHCN là một trong yếu tố quan trọng ảnh hƣởng tới nguồn trả nợ. Thứ năm, quy mô và số lƣợng các khoản vay, thông thƣờng quy mô mỗi khoản vay KHCN thƣờng nhỏ hơn so với các khoản vay của doanh nghiệp tuy nhiên số lƣợng các KHCN ở NHTM lớn hơn nhiều lần so với số lƣợng KHDN.
Thứ sáu, chi phí cho vay, lãi suất, do các khoản vay KHCN thƣờng có quy mô nhỏ, số lƣợng các khoản vay này lớn nên ngân hàng cần bỏ nhiều chi 10 phí trong việc phát triển tín dụng KHCN do đó chi phí tính trên mỗi khoản vay đối với KHCN cao hơn đối với KHDN. Vì vậy, lãi suất cho vay KHCN sẽ cao hơn lãi suất cho vay KHDN, thông thƣờng biên độ này dao động từ 1% - 2%/năm. Thứ bảy, rủi ro tín dụng, các khoản cho vay KHCN thƣờng tiềm ẩn rủi ro lớn đối với ngân hàng do tình hình tài chính của KHCN biến động mạnh theo yếu tố thị trƣờng, xã hội. Ngoài ra, KHCN còn hạn chế về trình độ, kiến thức tuy nhiên, giá trị mỗi khoản vay nhỏ nên mức độ phân tán rủi ro khi cho vay KHCN rất cao nên nhiều ngân hàng định hƣớng phát triển mạnh tín dụng KHCN.