MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay đất nước ta đang trên đà phát triền, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, đi đôi với đó là sự phát triển của các hệ thống hạ tầng kĩ thuật: Hàng ngàn những tòa nhà cao ốc mọc lên, rất nhiều con đường được mở, những trung tâm thương mại, vui chơi giải trí được xây dựng, những công trình thủy lợi với quy mô lớn được đầu tư,.Nhưng nguồn vốn để xây dựng những công trình đó lại có hạn. Vì vậy để sử dụng những đồng vốn bỏ ra có hiệu quả cao, đúng mục đích, không lãng phí và phù hợp với quy hoạch phát triển chung của đất nước thì công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng công trình là hết sức quan trọng trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư. Thẩm định dự án được xem như một nhu cầu không thể thiếu và là cơ sở để ra quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư.
Hiện nay, các hệ thống văn bản pháp luật về thẩm định dự án đầu tư xây dựng đã tương đối hoàn chỉnh nhưng do việc vận dụng các văn bản đó tại UBND huyện Kiến Xương – Tỉnh Thái Bình còn lúng túng, chưa chính xác nên công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng còn nhiều thiếu sót dẫn đến việc phê duyệt, cấp phép cho các dự án đầu tư xây dựng công trình vẫn chưa đảm bảo tính hiệu quả, khả thi và lợi ích của dự án mang lại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng tại UBND huyện Kiến Xương – Tỉnh Thái Bình.” là rất cần thiết để nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng tại UBND huyện Kiến Xương, là cơ cở cho việc phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng được đúng đắn, chính xác, phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư xây dựng. Mục đích của đề tài Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng, từ đó đánh giá thực trạng công tác thẩm định dự án ĐTXD tại UBND huyện Kiến Xương, xác định được những mặt còn hạn chế trong công tác thẩm định để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các dự án đầu tư xây dựng công trình.
1 - Phạm vi nghiên cứu: Công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại UBND huyện kiến Xương – Tỉnh Thái Bình trong những năm gần đây. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn chủ yếu sử dụng kết hợp các phương pháp sau: - Phương pháp kế thừa những kết quả nghiên cứu đã công bố; - Phương pháp thống kê những kết quả diễn biến từ thực tế để tổng kết, phân tích thực tiễn; - Phương pháp phân tích so sánh; - Phương pháp chuyên gia: Qua tham khảo xin ý kiến của các thầy cô trong Trường và một số chuyên gia có kinh nghiệm chuyên môn tại địa phương. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng giai đoạn hiện nay để làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại UBND huyện Kiến Xương. - Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu, đề xuất của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho UBND huyện Kiến Xương để thẩm định các dự án đầu tư xây dựng.
Kết quả dự kiến đạt đƣợc - Phân tích và áp dụng được cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng; - Đưa ra được một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình tại UBND huyện Kiến Xương; 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1. Tình hình đầu tƣ xây dựng hiện nay Giai đoạn 2008 - 2012, sự sụt giảm của ngành bất động sản đã tác động mạnh đến ngành xây dựng. Đến năm 2013, ngành xây dựng đã có những dấu hiệu hồi phục với tốc độ vừa phải nhờ những hỗ trợ từ lãi suất, các gói tín dụng cho thị trường bất động sản và dòng vốn FDI tăng mạnh. Năm 2014 được xem là năm khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới đối với ngành xây dựng.
Theo báo cáo của BMI, giá trị xây dựng toàn ngành đạt 211.200 tỷ đồng, tăng 6,2% so với năm 2013. Ba nguyên nhân chính giải thích cho sự tăng trưởng của ngành xây dựng là: - Sự tập trung đầu tư từ hạ tầng của Chính phủ; - Bất động sản phục hồi; - Dòng vốn FDI tiếp tục tăng ở mức tích cực. Hoạt động xây dựng trong năm 2015 tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, những khó khăn đang dần được tháo gỡ, nhiều dự án đầu tư lớn được khởi công tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng có nhiều cơ hội triển khai hoạt động. Theo báo cáo của tổng cục thống kê, giá trị sản xuất xây dựng 6 tháng đầu năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 393,8 nghìn tỷ đồng tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2014, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 29,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,9%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 260,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 23,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22,6%.
Việc cải tiến một số chính sách nhà nước là động lực tăng trưởng quan trọng đối với ngành xây dựng trong năm 2015: Luật Đấu thầu 2013 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định, nhà thầu ngoại phải liên doanh hoặc ký hợp đồng với nhà thầu phụ Việt Nam không thấp hơn 30% giá trị gói thầu về tư vấn, xây dựng và hỗn hợp. Điều này giúp cải thiện khả năng cạnh tranh của nhà thầu trong nước cũng như tăng tính minh bạch trong đấu thầu dự án. Các công ty xây dựng trong nước có nhiều cơ hội tham gia vào các dự án do Nhà nước đầu tư. Bên cạnh đó, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 được ban hành giúp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, khắc phục tình trạng nợ đọng và tăng tính minh bạch trong phân bổ nguồn lực Nhà nước.
Đặc biệt, ngày 3 14/2/2015, Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) chính thức được ban hành, nhiều doanh nghiệp xây dựng hạ tầng hồ hởi đón nhận. Nghị định 15/2015/NĐ-CP quy định về các điều khoản hợp tác, cơ chế thực hiện dự án rõ ràng, thông thoáng, nhằm khuyến khích tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ công. Qua đó, các chính sách này được xem là động lực tăng trưởng quan trọng đối với ngành xây dựng trong năm 2015. Tổng quan về dự án đầu tƣ xây dựng 1.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng Theo quy định tại Khoản 15, Điều 3, Luật xây dựng số 50/2014/QH13: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. [1] Lập dự án đầu tư xây dựng công trình để chứng minh cho người quyết định đầu tư thấy được sự cần thiết, mục tiêu, hiệu quả đầu tư của dự án; làm cơ sở cho người bỏ vốn (cho vay vốn) xem xét hiệu quả dự án và khả năng hoàn trả vốn. Đồng thời để các cơ quan quản lý nhà nước xem xét sự phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch đô thị; đánh giá tác động về sự ảnh hưởng của dự án tới môi trường, mức độ an toàn đối với các công trình lân cận; các yếu tố ảnh hưởng tới kinh tế xã hội; sự phù hợp với các yêu cầu về phòng chống cháy nổ, an ninh quốc phòng. Phân loại dự án đầu tư xây dựng 1.1 Theo Quy mô, tính chất, loại công trình chính - Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; 4 - Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm: A, B, C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công và được quy định chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định sô 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm: + Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; + Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất); 1.2 Theo nguồn vốn sử dụng - Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; - Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách; - Dự án sử dụng vốn khác.